Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

VỐN DOANH NGHIỆP - DƯỚI GÓC NHÌN QUẢN TRỊ TRI THỨC



TÓM TẮT
Bên cạnh nguồn tài chính để phát triển sản xuất kinh doanh thì tri thức con người là nguồn vốn cực quý của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp khó khăn trong việc tìm vốn để vận hành, đặc biệt là vốn tri thức. Vốn tri thức không ở nơi xa, mà nằm ngay trong bản thân mỗi doanh nghiệp. Biết khai thác, lưu giữ, trân trọng đội ngũ người lao động thì xem như doanh nghiệp đã biết cách “gọi vốn” và có ngay một nguồn vốn lớn, quý giá làm giàu cho doanh nghiệp, góp sự phồn vinh và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần nghiên cứu qui trình quản lý, khai thác vốn một cách hiệu quả từ việc quản trị nguồn tri thức bên trong mỗi doanh nghiệp.
 Keywords: vốn và cấu trúc vốn; vốn của doanh nghiệp; tri thức là tài sản; tri thức là nguồn lực.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vốn và tái cấu trúc vốn có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của doanh nghiệp. Một cấu trúc vốn hợp lý, thận trọng, với tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng vốn từ 40-60% sẽ giúp doanh nghiệp có nguồn lực để vượt qua giai đoạn khó khăn khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Phần lớn khó khăn về vốn của doanh nghiệp không phải do khó tiếp cận vốn vay ngân hàng, mà xuất phát từ sai lầm về cấu trúc vốn. Các doanh nghiệp Việt Nam thường có ba điểm yếu nên khó tiếp cận sự hỗ trợ tái cấu trúc vốn từ các bên liên quan.
Thứ nhất là công nghệ, thiết bị của các công ty Việt Nam quá lạc hậu nên sản phẩm không thể cạnh tranh về chất lượng, giá cả;
Thứ hai, các doanh nghiệp thiếu sự hợp tác, liên kết với nhau;
Thứ ba, nguồn nhân lực thiếu và yếu về số lượng lẫn chất lượng.
Hoạt động rời rạc, thiếu kết nối, thiếu hoạch định nên các doanh nghiệp khó tạo ra lực để phát triển. Những doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao sẽ không mạo hiểm khi nắm bắt cơ hội đầu tư, tạo ra sản phẩm mới do phải ưu tiên vấn đề giảm chi phí. Cắt giảm lương, chậm thanh toán nợ nhà cung cấp, giảm phí chăm sóc khách hàng dẫn đến hậu quả là doanh nghiệp giảm dần khách hàng, mất nhân viên giỏi và nhà cung cấp tốt. Điều này, làm sút kém năng lực cạnh tranh, kéo theo doanh thu giảm và làm cạn kiệt các nguồn vốn của doanh nghiệp. Đội ngũ nhân viên với tay nghề chuyên môn giỏi, trình độ tri thức cao luôn cập nhật mới cũng là nguồn vốn cực kỳ quan trọng bên cạnh nguồn vốn tài chính. Khai thác, phát huy hiệu quả nguồn chất xám sẵn có trong doanh nghiệp là việc rất cần làm và cần thực hiện lâu dài. Hơn tất cả, đây là nguồn vốn quan trọng nhất đối với một doanh nghiệp khi doanh nghiệp bước vào giai đoạn ổn định và phát triển. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả chỉ xin đề cập đến điểm yếu thứ ba của doanh nghiệp tức đề cập đến khía cạnh về vốn tri thức con người. Làm thế nào để doanh nghiệp quản lý nguồn vốn tri thức ổn định và khai thác hiệu quả, lâu bền?
2. NỘI DUNG
2.1 Tìm hiểu một số khái niệm liên quan đến vốn tri thức 
2.1.1 Khái niệm tri thức 
Tri thức chính là tài sản to lớn nhất của xã hội. Tri thức là vốn cực kỳ quan trọng của doanh nghiệp. Một cách nói khác chính xác hơn, tri thức của mỗi nhân sự mới thực sự là tài sản quan trọng nhất của các tổ chức, doanh nghiệp. Tri thức là sự hiểu biết, là kiến thức, kỹ thuật cá nhân, tay nghề, kinh nghiệm của nhân sự trong công việc, trong lao động sáng tạo, trong quan hệ giao tiếp, trong thương lượng, hợp tác làm ăn với các đối tác trong nước và quốc tế. Tri thức là kho tàng của sự hiểu biết và các kỹ năng được tạo ra từ trí tuệ của con người. Tri thức con người hiện tồn tại ở 2 dạng:
- Tri thức ẩn tàng (tacit): nguồn tri thức này nằm trong suy nghĩ, kỹ năng của nhân viên lành nghề, trong sự tài hoa của đôi tay, khối óc các nghệ nhân, chuyên gia, trí thức. Tri thức ẩn tàng chiếm khoảng 90 – 95% tri thức của nhân loại.
- Tri thức minh nhiên (explicit): Là nguồn tri thức hiển thị dưới dạng sách, báo, vở, đĩa mềm, mạng internet…Tri thức minh nhiên chỉ chiếm khoảng 5% tri thức của nhân loại. “Chúng ta đang đi vào xã hội tri thức trong đó nguồn lực kinh tế cơ bản không phải là tiền mà là và sẽ là tri thức và tri thức đã và đang trở thành một nguồn lực kinh tế chủ yếu và là một nguồn lực thống trị và có thể là duy nhất của lợi thế cạnh tranh”. Doanh nghiệp và xã hội đang lãng phí nguồn vốn tri thức rất nhiều bởi vì tri thức minh nhiên hiện chỉ chiếm khoảng 5% trong vốn tri thức của xã hội. Xã hội cần phải biến tri thức ẩn tàng trở thành tri thức minh nhiên nhằm tìm vốn phục vụ lợi ích con người và tăng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp và xã hội. Vốn tri thức khác vốn tài chính bởi vì nguồn vốn này luôn chuyển động và có tư duy. Vốn tri thức quan trọng hơn vì biết biểu hiện cảm xúc và có trách nhiệm với nhà quản trị của doanh nghiệp.
2.1.2 Kinh tế tri thức
Ngân hàng Thế giới (WB, 2000) đánh giá "Đối với các nền kinh tế tiên phong trong nền kinh tế thế giới, cán cân giữa hai yếu tố tri thức và các nguồn lực đang nghiêng về tri thức. Tri thức thực sự đã trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định mức sống - hơn cả yếu tố đất đai, hơn cả yếu tố tư liệu sản xuất, hơn cả yếu tố lao động. Các nền kinh tế phát triển nhất về công nghệ ngày nay thực sự đã dựa vào tri thức". Nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản như:
1. Tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn của doanh nghiệp.
2. Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu sản xuất dựa ngày càng nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao.
3. Cơ cấu lao động trong kinh tế tri thức có những biến đổi như lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao (70-90%), nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người. Ở đỉnh cao, xã hội của nền kinh tế tri thức sẽ trở thành xã hội học tập;
4. Trong nền kinh tế tri thức, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng;
5. Mọi hoạt động của kinh tế tri thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa. Một nền kinh tế tri thức có 4 trụ cột:
- Môi trường kinh tế và thể chế xã hội.
- Giáo dục và đào tạo.
- Mạng lưới các trung tâm nghiên cứu, đại học, tổ chức chuyên gia cố vấn, doanh nghiệp tư nhân, các nhóm cộng đồng.
- Hạ tầng cơ sở thông tin, từ radio đến Internet, đặc biệt là hệ thống viễn thông.
2.1.3 Quản trị tri thức
McAdam và McGreedy (1999) đã coi tri thức là tài sản và tri thức được tạo ra trong tổ chức thông qua những quan hệ xã hội. Quản trị tri thức là hoạt động mà hoạt động này quan tâm tới chiến lược và chiến thuật để quản lý những tài sản mà trọng tâm là con người. Quản trị tri thức là quá trình hệ thống của việc nhận dạng, thu nhận và chuyển tải những thông tin và tri thức mà con người có thể sử dụng để sáng tạo, cạnh tranh và hoàn thiện [4]. Các định nghĩa về quản trị tri thức thể hiện nổi bật các đặc tính sau: - Quản trị tri thức là một lĩnh vực có liên quan chặt chẽ với lý luận và thực tiễn và là một lĩnh vực mang tính đa ngành đa lĩnh vực. - Quản trị tri thức không phải là công nghệ thông tin mà công nghệ thông tin chỉ là yếu tố hỗ trợ, nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc quản trị tri thức. - Quản trị tri thức lấy yếu tố con người làm trọng tâm.
2.2 Hoạt động của doanh nghiệp trong việc quản trị nguồn vốn tri thức 
2.2.1 Nhiệm vụ 
Tri thức là tài nguyên vô cùng giá trị nhưng hiện tại đang rất tản mát, vương vãi, manh mún khắp mọi nơi. Đưa tri thức vào quản lý chặt chẽ không để thất thoát và để làm giàu cho xã hội nói chung và cho các doanh nghiệp nói riêng là một việc làm quan trọng và cần thiết trong giai đoạn nhận thức mới. Nâng cao khả năng nhận thức và kỹ năng quản trị tri thức cho nhân viên và người quản lý. Bên cạnh đó, phải giáo dục có ý thức để mọi người biết gìn giữ và bảo quản tri thức nhằm làm giàu cho bản thân, gia đình, doanh nghiệp và xã hội. Khai thác triệt để các tri thức ẩn tàng trong doanh nghiệp và biến nó trở thành tri thức minh nhiên để làm giàu vốn khoa học công nghệ. Phát triển sâu rộng “Tri thức chính là vốn” trong doanh nghiệp nhằm giáo dục cho mọi người nhận thức về vốn tri thức để quản trị vốn tri thức một cách có hiệu quả. Tổ chức, doanh nghiệp thực hiện vấn đề này thông qua giáo dục, đào tạo, truyền thông, nói chuyện chuyên đề… thường xuyên hơn trong doanh nghiệp. Làm cho mọi người trong doanh nghiệp biết ứng dụng tri thức để quản trị tri thức và biến kinh nghiệm, kỹ năng trở thành sản phẩm, dịch vụ để phục vụ, làm giàu cho con người, doanh nghiệp và xã hội.
2.2.2 Điều kiện thực hiện
Doanh nghiệp cần thực hiện phương châm “Khi người lao động rời khỏi tổ chức thì tri thức, bí quyết, kinh nghiệm của họ sẽ mãi ở lại với tổ chức, doanh nghiệp” và “Mỗi con người là một pho sách”. Chỉ cần ít năm làm việc thì mọi cá nhân - người lao động trưởng thành đều có thể hiểu và có thể ghi lại “vốn tri thức” của mình để lại cho doanh nghiệp nhằm thực hiện lưu giữ và biến những tri thức ẩn tàng trở thành tri thức minh nhiên. Bằng cách ghi lại các tri thức phát minh, sáng tác, các công thức, kinh nghiệm, sản phẩm nghệ thuật, công thức chế biến, phương pháp giảng dạy, các kỹ năng mềm, kỹ năng sống, kỹ năng sinh tồn, các phần mềm tin học, xử lý văn bản, thiết kế…dưới dạng sách, vở, hình ảnh và công thức, slides bài huấn luyện, giáo trình, bài giảng online, làm blog, phim, băng, đĩa…của toàn bộ người lao động và những người có liên quan trong doanh nghiệp.
2.2.3 Phương pháp
Doanh nghiệp cần hiện thực và quy trình hóa việc quản trị tri thức và cần được văn bản hóa để thực hiện một cách chuyên nghiệp bài bản. Tránh những hiểu lầm không đáng có đồng thời dễ dàng cho việc phát hiện điều chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện. Cụ thể hóa việc xây dựng hệ thống tài liệu thống nhất để nắm bắt tri thức, tổ chức hoàn thiện hệ thống tài liệu và kho cơ sở dữ liệu tri thức chung trong doanh nghiệp. Chú trọng đào tạo, chuyển giao tri thức. Chú trọng đến nhân tố con người. Con người có thể tạo ra tri thức mới và chỉ có con người mới có khả năng vận dụng tri thức đó để tiếp tục tạo ra những tri thức mới hơn. Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc gìn giữ, duy trì và lưu giữ tri thức. Ứng dụng và phát triển một cách kịp thời và ổn định. Công nghệ thông tin là công cụ cực kỳ hiệu quả trong việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, tri thức của tổ chức. Cho phép nhân viên truy cập phục vụ việc ra quyết định kịp thời cũng như xây dựng mạng lưới quản trị tri thức theo chiều rộng và chiều sâu. Họp xét, bình chọn, mở rộng, nâng cấp và triển khai định kỳ (công bố trên các tạp chí khoa học và ứng dụng trong kinh doanh những tri thức đã hệ thống và tri thức mới. Cập nhật thông tin mới và học hỏi kinh nghiệm từ những việc đã làm và kinh nghiệm của doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp nhận thức tốt nhất về nguồn tri thức, biến tri thức thành sức mạnh và trở thành ngành kinh tế chủ lực là cách làm giàu bằng vốn bằng tri thức. Như là một quan hệ nhân quả, ý thức làm giàu bằng tri thức ngày càng nâng cao và nhân rộng trong cộng đồng thì quản lý doanh nghiệp càng tốt hơn, khoa học hơn, văn minh hơn và giàu có hơn.
3. KẾT LUẬN 
Việc nhận thức đúng vấn đề “tri thức chính là vốn” là việc làm có ý nghĩa và thực hiện nó trong thời điểm này là phù hợp vì điều kiện và hạ tầng hiện có đủ đáp ứng trong việc triển khai thực hiện. Mọi người lao động có đủ nhận thức và trình độ để chuyển hóa tri thức thành vốn và đó cũng là cách làm cho con người trong doanh nghiệp trở nên thông thái, tích cực hơn. Doanh nghiệp lấy khoa học công nghệ, lấy sự đổi mới sáng tạo làm động lực phát triển lâu dài, ổn định đó chính là cách gầy dựng vốn vững vàng và bền vững nhất. 

Bài tham gia Hội thảo “Vốn và cấu trúc vốn của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập”. Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM - ngày 06/03/2015.

4. TÀI LIỆU THAM KHẢO 
[1]. Vụ tài chính ngân hàng và các tổ chức tài chính (Bộ Tài chính), Tổng quan về thị trường tài chính Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Tài chính số 7 - 2014
[2]. Trần Tuấn Anh, Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát thị trường tài chính, Tạp chí Tài chính số 7 – 2014
[3]. Trần Hữu Lam, Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Quản trị (CEMD) - Đại học Kinh tế TPHCM.
[4]. http//www.saigondautu.com.vn/Doanh nghiệp vay vốn tái cấu trúc: Nói thông, làm vướng, Đỗ Linh.
[5]. http//www.sucmanhtrithuc.vn/kienthuc/kinhdoanh/155- Quản trị tri thức – Tầm nhìn lớn của lãnh đạo
[6].http://www.amazon.com/Managing-Great-Change-Drucker Library/dp/1422140792
[7]. Awad, E. and Hassan, G. (2004) Knowledge Management
[8]. Lambe, P. (2001) Knowledge-Based CRM: A Map
[9]. Nonaka, I. and Takeuchi, H. (1995) The Knowedge-Creating Company


THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ CÁC CÔNG CỤ TIẾP THỊ HIỆN ĐẠI CHO DOANH NGHIỆP DU LỊCH, KHÁCH SẠN

TÓM TẮT
Bài nghiên cứu chia sẻ những kiến thức thực tiễn trong việc tiếp thị dịch vụ cho ngành du lịch, khách sạn, nhà hàng bằng các công cụ của thương mại điện tử; Cách tận dụng những lợi điểm và khai thác những cơ hội của thương mại điện tử; Cách quảng cáo, tuyên truyền, thông tin qua các phương tiện khác nhau trên internet nhằm làm gia tăng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Các công cụ dùng để tiếp thị, truyền thông trực tuyến như blog, website, tiểu blog, diễn đàn, mạng xã hội và các công cụ khác được trao đổi cụ thể và chi tiết trong bài viết. Tìm hiểu các xu hướng tiếp thị mới thời kỳ bùng nổ thương mại điện tử là việc làm thường xuyên của các doanh nghiệp dịch vụ. Ba xu hướng mới có mối quan hệ mật thiết với nhau đang làm chuyển đổi hệ thống tiếp thị hiện đại trên thế giới đó chính là quyền của người tiêu dùng ngày càng được đề cao; sự tăng trưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng dựa trên sự tương tác mạng internet và sự gia tăng không ngừng về tính phức tạp của tiếp thị.
Keywords: công cụ tiếp thị, tiếp thị trực tuyến, thương mại điện tử, công cụ tiếp thị hiện đại, xu hướng tiếp thị mới.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả thì blog, website, dịch vụ tiểu blog, diễn đàn, mạng xã hội, SEO, SEM…là những công cụ chính dẫn dắt khách hàng đến quy trình quyết định mua sản phẩm, dịch vụ. Doanh nghiệp du lịch, khách sạn có lưu lượng truy cập của khách hàng tiềm năng nhiều sẽ không mang ý nghĩa nếu công suất phòng không tăng, lợi nhuận cũng không tăng. Khi sức mạnh nội tại của doanh nghiệp được phát huy như ý thức làm việc cao, duy trì lợi nhuận tăng trưởng, giữ chân lâu dài lượng khách hàng gắn bó điều đó phản ánh người làm marketing đã nỗ lực thực hiện nhiều thay đổi trong một kế hoạch marketing điển hình, sử dụng công cụ tiếp thị trực tuyến hiệu quả, thiết kế nội dung tối ưu cho website chính là hệ quả tích cực của thương mại điện tử.
2. NỘI DUNG
Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet. (WTO)
Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet. (APEC)
Thương mại điện tử chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thông qua các công cụ, kỹ thuật và công nghệ điện tử. Ngoài ra, theo nghiên cứu các học giả cho rằng thương mại điện tử và kinh doanh điện tử đều thuộc về nền kinh tế internet. (ĐH Texas)
Thương mại điện tử ngày nay liên quan đến tất cả mọi thứ từ đặt hàng nội dung kỹ thuật số cho đến tiêu dùng trực tuyến tức thời, để đặt hàng và dịch vụ thông thường đều tạo điều kiện thuận lợi cho các dạng khác của thương mại điện tử.
Ở cấp độ tổ chức, các công ty lớn và các tổ chức có sử dụng internet để trao đổi nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh trong nước và quốc tế. Tính toàn vẹn của dữ liệu và tính an ninh là các vấn đề rất nóng gây bức xúc trong thương mại điện tử. Mô hình kinh doanh trên toàn cầu tiếp tục thay đổi đáng kể với sự ra đời của thương mại điện tử. Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ cũng đã đóng góp vào sự phát triển của thương mại điện tử. Thương mại điện tử đã trở thành một công cụ quan trọng cho thương mại quốc tế không chỉ bán sản phẩm mà còn quan hệ với khách hàng.
2.2. Ứng dụng thương mại điện tử vào kinh doanh du lịch, khách sạn
Việc lệ thuộc chủ yếu vào các kênh marketing truyền thống như quảng cáo hay quan hệ công chúng để đưa thông điệp đến người tiêu dùng đã trở nên lỗi thời. Thay vào đó, người làm marketing hiện đại tiếp cận khách hàng trực tiếp thông qua mạng internet. Các doanh nghiệp du lịch, khách sạn đều có thể tận dụng sức mạnh của internet để định vị thương hiệu của doanh nghiệp mình ở một tầm cao mới.
Doanh nghiệp du lịch, khách sạn chứng tỏ năng lực chuyên môn của mình dưới nhiều hình thức khác nhau: website, blog, diễn đàn, mạng xã hội, v.v. Những hình thức mới này cho phép doanh nghiệp du lịch, khách sạn cung cấp thông tin phù hợp vào đúng thời điểm mà người tiêu dùng tiếp thu dễ nhất. Doanh nghiệp cũng có thể trực tiếp truyền tải các nội dung mang nhiều thông tin phong phú và sâu sắc bằng lối trực tuyến hoặc tương tác và tham gia vào các đề tài thảo luận do người tiêu dùng khởi xướng trên các blog, diễn đàn.
Doanh nghiệp du lịch, khách sạn xây dựng niềm tin và lòng trung thành của khách hàng thông qua nội dung truyền đạt trên mạng internet. Người làm marketing ngày nay đóng vai trò như một nhà xuất bản thông tin để kiến tạo và truyền tải nội dung trực tiếp đến khách hàng. Mô hình xuất bản thông tin trên internet không cường điệu hóa các thông điệp mà nói về quá trình truyền tải thông điệp đúng nơi, đúng lúc góp phần đưa nhãn hiệu của doanh nghiệp du lịch, khách sạn vươn lên vị trí cao hơn. Khi hiểu được khách hàng tiềm năng, doanh nghiệp có thể xây dựng một chiến lược phát triển theo lối riêng của họ.
Doanh nghiệp du lịch, khách sạn phải tập trung vào khách hàng và đáp ứng nhu cầu của họ. Để thực hiện thành công việc này, người làm marketing phải mang tư duy của một nhà xuất bản, phải thấy rằng họ đang là người cung cấp thông tin, xem thông tin như một tài sản giá trị vì trên internet, nội dung đóng vai trò tối quan trọng.
Nhà xuất bản bắt đầu bằng việc xây dựng chiến lược, sau đó tập trung vào cách thức và thiết kế nội dung. Họ phân tích và xác định đối tượng mục tiêu, xem xét những nội dung cần thiết để truyền tải đến đối tượng. Một chiến lược marketing hiệu quả là phải lôi kéo khách hàng hành động. Các doanh nghiệp du lịch, khách sạn hiểu được những quy tắc này là những doanh nghiệp có mục tiêu kinh doanh rõ ràng nhằm thu hút du khách khẳng định và tạo doanh thu từ sản phẩm, dịch vụ mình cung cấp.
2.3. Các công cụ tiếp thị trực tuyến cho doanh nghiệp du lịch, khách sạn
Tiếp thị trực tuyến đóng vai trò quan trọng không kém gì công việc tiếp thị và quảng bá thương hiệu truyền thống. Với 28.5 triệu người dùng internet năm 2010 thì internet đã chiếm 30% dân số, chiếm 99% những người có thu nhập và dân trí cao nhất ở Việt Nam. Tận dụng marketing trực tuyến trên internet là thực hiện hiệu quả các công cụ dưới đây:
2.2.1 Website 
Website của doanh nghiệp du lịch, khách sạn là trang thông tin trực tuyến nhằm cung cấp thông tin về doanh nghiệp cho cộng đồng. Hầu hết mọi doanh nghiệp có tương tác với công chúng đều sở hữu một website. Các doanh nghiệp lớn thường xây dựng website chính dành cho tất cả các nhãn hiệu và công ty con của mình. Website của doanh nghiệp du lịch, khách sạn phục vụ nhu cầu của nhiều nhóm lợi ích khác nhau: ứng viên xin việc, nhà đầu tư, báo chí, khách du lịch, xã hội và do vậy thường mang những chức năng chung sau:
-         Trang chủ.
-         Thanh định hướng, hay các phương tiện khác nhằm hỗ trợ người dùng truy cập đến mọi thành phần của trang web.
-         Biểu tượng, khẩu hiệu của doanh nghiệp.
-         Trang giới thiệu nhằm mục đích thông tin tổng quan về doanh nghiệp.
-         Các trang khác nhằm phục vụ cho một nhóm lợi ích nhất định.
-         Đặt dịch vụ.
-         Thông tin liên lạc.
-         Khác
Ngoài website chính, doanh nghiệp đôi khi cũng sử dụng những trang dành cho các chiến dịch marketing nhất định, tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn. Một trong những kỹ thuật marketing được sử dụng nhiều nhất để quảng bá một website là “Tối ưu hóa website cho cỗ máy tìm kiếm” (Search Engine Optimization). Đây là một tập hợp các phương pháp nhằm nâng cao thứ hạng của một website trong các trang kết quả của các công cụ tìm kiếm và có thể được coi là một lĩnh vực của tiếp thị qua công cụ tìm kiếm.
2.2.2. Blog
Xuất hiện từ giữa thập niên 90, blog là từ viết gọn của Weblog, một thuật ngữ thường dùng để nói về nhật ký cá nhân trực tuyến. Blog thuần túy mang hình thức của một trang nhật ký cá nhân, được viết và cập nhật thường xuyên, mọi người trên internet đều có thể đọc được. Các bài viết thường xuất hiện theo trình tự ngược thời gian, bài mới nhất xuất hiện ở đầu trang, các bài tiếp theo nằm ở phía dưới, người đọc có thể xem các bài viết cũ thông qua liên kết lưu trữ ở cuối hay hai bên trang. Blog có nội dung hết sức đa dạng vì phản ánh sự đa dạng trong tư duy của con người.
Khi Weblog ngày càng phổ biến, doanh nghiệp du lịch, khách sạn và các công ty truyền thông bắt đầu sử dụng blog một cách chuyên nghiệp nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của mình. Blog của doanh nghiệp thường do đội ngũ nhân viên, người phát ngôn viết. Một số giám đốc điều hành, quản lý của các tập đoàn lớn cũng viết blog.
Doanh nghiệp thường dùng blog để công bố sản phẩm mới, giải thích và làm sáng tỏ các chính sách, xử lý những chỉ trích của công chúng đối với những vấn đề nhất định. Thông qua blog, người đọc cũng hiểu được phần nào văn hóa doanh nghiệp. Do mang bản chất của blog, nên dù chuyên nghiệp hơn blog cá nhân, blog doanh nghiệp vẫn mang tính chủ quan, nhưng là quan điểm chân thật và trực tiếp hơn các kênh giao tiếp truyền thống.
Blog còn mang lại cho doanh nghiệp giá trị bổ sung bằng cách làm tăng thêm uy tín của doanh nghiệp, điều mà trang web không mang lại được. Ngôn ngữ gần gũi và tính kịp thời của thông tin góp phần nâng cao sự minh bạch và uy tín của hình ảnh doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp du lịch, khách sạn nói riêng.
2.2.3. Diễn đàn
Diễn đàn là một trang thảo luận trực tuyến. Người tham gia diễn đàn có thể tạo dựng mối quan hệ với nhau và các nhóm lợi ích có thể dễ dàng hình thành quanh cuộc thảo luận về một đề tài nào đó. Xét về mặt công nghệ thì đây là một ứng dụng web nhằm quản lý những nội dung do người dùng tạo ra. Hầu hết các diễn đàn đều yêu cầu người dùng đăng ký và đăng nhập để gửi bài, đây là những thành viên của diễn đàn. Diễn đàn được quản lý bởi ban quản trị và người điều hành, chịu trách nhiệm về nội dung, quy định và kỹ thuật. Một diễn đàn thường có cấu trúc cơ bản như sau:
Nhóm người dùng: diễn đàn thường tổ chức thành viên thành các nhóm với quyền và chức vụ khác nhau.
Người gửi bài: đây chính là thành tố quan trọng nhất trong cộng đồng diễn đàn. Họ chính là những người tạo ra nội dung.
Thành viên điều hành: đây là những thành viên được trao quyền giám sát bài viết và thảo luận của các thành viên khác, đảm bào thực thi nội quy của diễn đàn.
Thành viên quản trị: là những thành viên quản lý các vấn đề kỹ thuật của diễn đàn. Họ có quyền tăng hoặc giảm quyền hành của thành viên, tạo ra các mục trên diễn đàn, sao lưu cơ sở dữ liệu.
2.2.4. Dịch vụ tiểu blog
Dịch vụ tiểu blog là một hình thức blog truyền thông đa phương tiện cho phép người dùng gửi những dòng chữ cập nhật ngắn hoặc các hình ảnh, âm thanh và xuất bản chúng lên internet cho mọi người hoặc một nhóm người giới hạn xem. Người dùng có thể gửi các thông điệp này thông qua tin nhắn di động, tin nhanh, thư điện tử, hay trực tiếp qua website. Sự khác biệt giữa dịch vụ tiểu blog với weblog nằm ở chỗ thông điệp ngắn gọn hơn rất nhiều và tập trung vào một chủ đề nhất định. Tuy vậy, doanh nghiệp vẫn sử dụng hai dịch vụ này chung cho mục đích kinh doanh. Nhiều dịch vụ tiểu blog cho phép doanh nghiệp tương tác trực tiếp với người tiêu dùng, chia sẻ tin tức về công ty, sản phẩm và dịch vụ.
2.2.5. Mạng xã hội
Mạng xã hội như Facebook, LinkedIn chính là những đại diện tiêu biểu nhất của công nghệ internet. Những trang này cho phép xây dựng mối quan hệ trên quy mô lớn, các cá nhân có thể kết nối với nhau dựa trên quan hệ bạn bè trên thực tế, sở thích, mục tiêu nghề nghiệp, hay thông qua một người quen khác. Khi người dùng tham gia một mạng xã hội, họ có thể tạo hồ sơ cho riêng mình. Hồ sơ bao gồm thông tin cá nhân như: quê quán, tiểu sử nghề nghiệp, sở thích... Sau đó người dùng có thể tải hình ảnh lên mạng hay chia sẻ những liên kết mà họ quan tâm. Thông tin này được hiển thị trên trang hồ sơ và người dùng có thể điều chỉnh mức độ riêng tư: thông tin có thể được xem bởi mọi người hay chỉ những người có kết nối với họ. Trang hồ sơ chính là điểm xuất phát để người dùng tiếp tục tìm hiểu về các mạng xã hội này. Họ có thể tìm kiếm những cá nhân khác, hay tìm những người có cùng sở thích. Theo cách đó, những mạng lưới toàn cầu của các cá nhân này với các mối quan hệ của họ được sản sinh.
Tương tự như blog và các trang đánh giá, mạng xã hội cho phép người dùng bình luận, gửi hình ảnh, đoạn phim, đường liên kết lên trang hồ sơ của người khác, tức là chia sẻ thông tin và sở thích với hàng chục, hàng trăm hay thậm chí là hàng ngàn người khác.
2.2.6. Dịch vụ chia sẻ nội dung
Trong khi mạng xã hội cho phép người dùng chia sẻ tất cả các thể loại nội dung khác nhau thì những dịch vụ chia sẻ nội dung như Flickr hay Youtube lại cho phép họ chia sẻ một thể loại nội dung chuyên biệt. Youtube của Google là dịch vụ cho phép người dùng chia sẻ các đoạn video về mọi chủ đề trong khi Flickr của Yahoo lại dành cho giới yêu thích nhiếp ảnh. Nội dung đóng vai trò trọng tâm, người dùng không cần tạo hồ sơ mới có thể tham gia và nếu họ muốn tạo thì những trang hồ sơ này cũng không cần mang nhiều thông tin cá nhân. Giống như các dịch vụ trực tuyến khác, Flickr và Youtube cho phép người dùng bình luận về nội dung của người khác gửi lên. Một lần nữa điều này lại thúc đẩy quá trình trao đổi ý tưởng và tư duy.
Theo Eureka, cho dù doanh nghiệp du lịch, khách sạn mới khai trương hay là dày dạn kinh nghiệm thì cũng phải đối mặt với rất nhiều thách thức. Một trong những thách thức quan trọng nhất đó chính là việc thiết kế website cho doanh nghiệp của mình. Một bản thiết kế website chuyên nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận thị truờng hiệu quả hơn, có thể giúp chuyển đổi khách truy cập website thành khách hàng khi họ tìm kiếm thông tin liên quan bằng công cụ tìm kiếm. Chính vì vậy, một vài điểm lưu ý sau cần được chú trọng:
2.4.1 Luôn tuơi, mới trong ý tưởng khi thiết kế website
Trang chủ của website một doanh nghiệp du lịch, khách sạn là phần quan trọng nhất trong một website. Đây là nơi đầu tiên mà khách hàng tiềm năng sẽ nhìn thấy khi truy cập vào website và đuợc liên kết tới những thư mục đuợc chọn sẵn. Một website cho doanh nghiệp du lịch, khách sạn thuờng dưới 10 trang cho nên trang chủ là một điểm nhấn vô cùng quan trọng, trang chủ phải được trình bày đơn giản nhưng toát lên sự sang trọng, tuơi tắn, lịch sự. Hầu hết khách hàng tiềm năng ghé thăm website một nhà hàng, khách sạn thường chỉ tìm giờ hoạt động, số điện thoại đặt phòng, chỉ dẫn địa điểm, và menu có giá cả rõ ràng. Nếu đơn vị có nhiều menu thì hãy liệt kê tất cả chúng với tên gợi nhớ ngắn gọn dễ hiểu và đảm bảo rằng các menu này dễ dàng truy cập từ trang chủ với ít thao tác nhất. Khách hàng thường không đủ kiên nhẫn để tìm kiếm thông tin trên website nếu đợi quá lâu. Họ có quá nhiều sự lựa chọn vì thế hãy để số điện thoại, giờ hoạt động có mặt trên tất cả các trang.
Đối với website của một nhà hàng, nếu có thực đơn cho trẻ em hãy sắp xếp nó trên menu dễ trông thấy, đa số cha mẹ thuờng chọn nhà hàng có thực đơn cho trẻ em đi cùng. Điều này sẽ giúp tăng tỉ lệ khách hàng cho nhà hàng. Nhiều khách hàng sẽ tìm đến trang chủ website sau khi đọc đánh giá về nhà hàng, nên giữ cho nội dung trang chủ ngắn gọn và tập trung, không nên cho quá nhiều văn bản trên trang chủ khi thiết kế website nhà hàng, khách sạn.
Màu sắc đóng vai trò quan trọng trong thiết kế website của nhà hàng hay khách sạn. Màu sắc tạo ra phản ứng cảm xúc cho nguời xem. Màu sắc khác nhau tạo ra các phản ứng tình cảm khác nhau. Màu đỏ và cam tăng nhịp tim và hơi thở, màu đen thể hiện sự sang trọng tinh tế chính vì thế nhiều website khách sạn, nhà hàng có màu chủ đạo là hai màu này. Đừng thiết kế website nhà hàng, khách sạn với quá nhiều màu sắc và hình ảnh đồ họa. Một hình ảnh có thể thay 1000 chữ nhưng nó cũng có thể gây nhầm lẫn và khuếch tán sự chú ý. Chọn một vài nhà hàng đẹp ưng ý để chụp ảnh hoặc chụp những món ăn đặc trưng để đưa lên trang chủ, đảm bảo những bức ảnh đó có chất luợng cao.
Không sử dụng flash vì nó làm cho website không tuơi và sắc nét, flash cũng không thân thiện với công cụ tìm kiếm. Không sử dụng nhạc nền trên website, khách hàng không thích điều đó. Hãy để dành nhạc ở trong nhà hàng. Tối ưu tốc độ tải của website bởi vì khách hàng rất thiếu kiên nhẫn, nếu website của nhà hàng, khách sạn chứa nhiều ảnh đồ họa lớn hãy đảm bảo cơ sở hạ tầng phần cứng, hotsting và băng thông đủ mạnh để hỗ trợ. Xem xét sự tương thích của website trên các thiết bị di động thông minh như điện thoại, máy tính bảng. Sự bùng nổ của các thiết bị di động có thể truy cập internet mọi lúc mọi nơi làm bất cứ chủ website nào cũng phải chú ý vấn đề này.
Nếu website nhà hàng, khách sạn có chuơng trình khuyến mại thuờng xuyên, hãy làm cho nó xuất hiện nổi bật trên trang chủ. Có thể, hôm nay khách hàng chưa tới nhưng họ sẽ đến vì biết trong tuơng lai có sự kiện đặc biệt diễn ra. Với chương trình khuyến mãi, có thể biến một nguời bình thuờng trở thành khách hàng thuờng xuyên.
Công cụ tìm kiếm thích các trang web có cấu trúc thân thiện linh hoạt. Điều này rất quan trọng vì nguời dùng chủ yếu đến với website qua công cụ tìm kiếm, tất nhiên nếu muốn có khách hàng thì phải ở những vị trí đầu tiên trong trang kết quả tìm kiếm. Không chỉ thiết kế cho công cụ tìm kiếm, nguời dùng cũng cần có một cấu trúc website đuợc tổ chức tốt, các menu rõ ràng dễ khám phá.
Ví dụ: khách hàng truy cập vào website có thể dễ dàng đặt phòng hoặc đặt hàng qua số điện thoại? Số điện thoại của khách sạn có dễ trông thấy trên website hay không?
Hãy sử dụng chữ in đậm, lớn để trình bày thông tin quan trọng hoặc nhấn mạnh những điều website muốn nguời đọc chú ý đến. Thêm màu cho các văn bản muốn nhấn mạnh. Hầu hết mọi nguời sẽ bỏ qua nội dung nếu tiêu đề nội dung họ không quan tâm, vì vậy đừng xem nhẹ việc đặt tựa (tiêu đề) cho nội dung.
Công cụ tìm kiếm biết đến website dựa trên nội dung chất lượng và các liên kết đến nó. Càng nhiều nội dung giá trị với khách hàng trên website thì càng thu hút đuợc sự chú ý của công cụ tìm kiếm. Con người cũng cần nội dung, họ muốn biết nhà hàng, khách sạn như thế nào, có các món ăn kiêng, ăn chay hay không? Hãy nghiên cứu đối thủ cạnh tranh thành công. Xem màu sắc, nội dung hình ảnh đồ họa cách bố trí trên website để rút kinh nghiệm áp dụng cho website của mình.
Các đơn vị du lịch, khách sạn cũng như các doanh nghiệp nhỏ khác cần phải quan tâm tới tiếp thị trực tuyến website của mình mà cụ thể là SEO và SEM. Cả 2 cái này sẽ là đòn bẩy tuyệt vời cho công việc kinh doanh. Rất nhiều khách hàng tiềm năng đến từ công cụ tìm kiếm.
Khách hàng đến với doanh nghiệp du lịch, khách sạn do sự khác biệt vì thế hãy tạo ra sự khác biệt bằng đam mê và nhiệt huyết sáng tạo. Chỉ có sự khác biệt mới làm điểm nhấn quan trọng thu hút khách hàng trong lĩnh vực kinh doanh này.
Trên đây là những yếu tố cần chú ý khi thiết kế webstie cho doanh nghiệp du lịch, khách sạn. Nếu làm tốt các vấn đề trên, website sẽ trở thành công cụ kinh doanh trực tuyến hữu hiệu nhất.  
Lĩnh vực tiếp thị số đang thay đổi nhanh chóng cùng với sự phát triển của công nghệ. Các doanh nghiệp du lịch, khách sạn cần tìm hiểu thêm 14 công cụ tiếp thị đã được ứng dụng tiếp thị nhằm theo kịp sự thay đổi đó. [11]
2.5.1. Di động: Đặt phòng trên di động sẽ tiếp tục bùng nổ trong thời gian tới. Có dự đoán cho rằng đến năm 2017, 50% đặt phòng trực tiếp trực tuyến đến từ các thiết bị di động.
2.5.2. Video: Sử dụng video tăng lên với tốc độ nhanh. Năm 2013, 81% du khách mua sắm du lịch trực tuyến đã tham khảo video trước khi đặt dịch vụ.
2.5.3. Từ khóa tìm kiếm: Hiện có khoảng 80% dữ liệu tìm kiếm của Google được ghi nhận dưới từ khóa “Not provided”. Dự đoán trong tương lai không xa, Google sẽ mã hóa 100% từ khóa – dấu chấm hết cho dữ liệu từ khóa tìm kiếm tự nhiên.
2.5.4. Tái tiếp thị (ReMarketing): 96% người dùng rời website mà không mua sắm gì. Công nghệ tái tiếp thị sẽ giúp doanh nghiệp du lịch tiếp cận lại với họ.
2.5.5. OTA (Online Travel Agent) và đặt phòng trực tiếp: Trung bình một du khách thăm hơn 20 website trước khi họ đặt dịch vụ trực tuyến. Năm 2014, meta search, truyền thông xã hội và website thương hiệu mạnh sẽ có cơ hội cạnh tranh với OTA và có được các đặt phòng trực tiếp nhiều hơn.
2.5.6. Meta search: Các công cụ tìm kiếm du lịch chuyên biệt đang bùng nổ.
2.5.7. Tìm kiếm theo ngữ nghĩa (Semantic search): Công nghệ tìm kiếm mới này sẽ tiếp tục phát triển.
2.5.8. Kết quả hình ảnh Google Carousel: Hiện hình thức hiển thị kết quả theo hình ảnh Google Carousel đã được áp dụng cho tìm kiếm sự kiện và vị trí tại Châu Âu. Trong năm 2014 vừa qua, Google nhân rộng hình thức này với tất cả các kết quả khách sạn (hiện đã áp dụng tại Mỹ).
2.5.9. Đa màn hình: Cũng trong 2014 là năm của tiếp thị đa màn hình, các du khách sẽ di chuyển giữa các thiết bị trong quá trình đặt dịch vụ.
2.5.10. Tiếp thị truyền thông xã hội:
Lượng truy cập website thông qua truyền thông xã hội ngày càng tăng. Công cụ tìm kiếm sẽ dành ưu tiên nhiều hơn cho các website truyền thông xã hội trong kết quả tìm kiếm.
2.5.11. Google Plus: Google Plus sẽ là mạng xã hội dành cho SEO trong năm qua và các năm kế tiếp, nội dung trong Google Plus sẽ xuất hiện trong Google Carousel, tìm kiếm địa phương và kết quả Google Now.
2.5.12. Google Analytics: Các chuyên viên tiếp thị sẽ tiếp tục phải tìm hiểu sâu hơn công cụ này.
2.5.13. Tốc độ website: Tốc độ của website đã luôn có ảnh hưởng đến kết quả tìm kiếm và nó sẽ có vai trò lớn hơn nữa trong thời gian tới.
2.5.14. Vị trí: Công nghệ tiếp thị theo vị trí (Geo-Targeting) sẽ có bước phát triển lớn trong các năm tới. Ngành du lịch, khách sạn sẽ thấy cơ hội rất lớn với phương này.   
3. KẾT LUẬN
Việc lệ thuộc chủ yếu vào các kênh tiếp thị truyền thống như quảng cáo hay quan hệ công chúng để đưa thông điệp đến người tiêu dùng đã trở nên lỗi thời. Ngày nay, người làm marketing tiếp cận người tiêu dùng trực tiếp qua internet. Mọi doanh nghiệp đều có thể tận dụng sức mạnh của internet để tự định vị nhãn hiệu ở một tầm cao mới. Doanh nghiệp chứng tỏ năng lực chuyên môn của mình dưới nhiều hình thức khác nhau: trang Web, blog, diễn đàn, mạng xã hội, v.v. Những hình thức mới này cho phép họ cung cấp thông tin phù hợp vào đúng thời điểm mà khách hàng dễ tiếp thu nhất. 

Bài được đăng trong kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại điện tử - cơ hội và thách thức trong trong nền kinh tế hội nhập quốc tế” Đại học Đà Lạt ngày 20/06/2015 

4. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Đặng Thanh Vũ (2014), Bán và tiếp thị sản phẩm khách sạn, ĐH Công nghệ Tp.HCM.
[2]. Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam (2005), “Luật giao dịch điện tử số”.  
[3]. Hệ thống văn bản Pháp luật, Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử.  
[7]. “Glossary:E-commerce”. Euro Commission.
[8]. http://www.taka.com.vn/
[9]. http://inet.edu.vn/tin-tuc/44/marketing-online.html  
[10]. http://event.forbesvietnam.com/under30summit/program/
[11]. http://www.hospitalite.vn/2014/01/08/14-xu-huong-tiep-thi-truc-tuyen-nam-2014/    

CỘNG ĐỒNG ASEAN NĂM 2015 – THÁCH THỨC, CƠ HỘI VÀ GIẢI PHÁP TRONG GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH VIỆT NAM

TÓM TẮT
Việt Nam luôn phải cạnh tranh với các điểm đến hàng đầu của các nước trong khối ASEAN trong việc thu hút khách du lịch. Các điểm đến du lịch ở Malaysia, Thái Lan, Singapore được đầu tư nhiều kinh phí, người lao động có tay nghề lao động với trình độ chuyên môn cao, các doanh nghiệp luôn đổi mới về sản phẩm và nâng cao thương hiệu du lịch. Thách thức lớn nhất là bối cảnh các nước Asean sẽ gia nhập cộng đồng chung ASEAN vào năm 2015, Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều thách thức do sự không đồng đều về chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng dịch vụ, năng lực kinh doanh. Nếu Việt Nam không chuẩn bị tốt, khai thác tốt thì các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ mất thị trường khách du lịch trong khu vực mà thị trường khách nội địa cũng khó giữ vững.                          
Toàn khối ASEAN năm 2015 sẽ tiến tới một cộng đồng “thống nhất trong đa dạng”, tiếp tục là tổ chức hợp tác khu vực mở và có vai trò quan trọng ở Châu Á-Thái Bình Dương. Do vậy, liên kết ASEAN sâu rộng hơn trong ba lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội là những tính toán chiến lược quan trọng. Việc xem xét lợi ích của quốc gia nói chung và lợi ích ngành du lịch nói riêng phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể, xuyên suốt, trong đó không thể xem nhẹ việc giáo dục đào tạo tay nghề chuyên nghiệp của con người làm du lịch Việt Nam.
Key word: Cộng đồng ASEAN, AEC, ba trụ cột, giáo dục đào tạo nhân lực du lịch, thách thức, cơ hội
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có những bước chuyển mạnh mẽ nhằm tăng cường liên kết khu vực, tận dụng những cơ hội mới đang mở ra cũng như ứng phó hiệu quả hơn với các thách thức mới ngay từ những ngày đầu thế kỷ 21. Việt Nam đã đóng vai trò tích cực cùng các nước ASEAN xây dựng và thông qua Tuyên bố hòa hợp ASEAN II tại Bali, Indonesia (10/2003), đề ra những định hướng chiến lược cho sự phát triển của ASEAN, hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN năng động, tự cường và gắn kết vào năm 2015, với ba trụ cột chính là Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN (ASCC) - ASCC là sáng kiến của Việt Nam; các Kế hoạch hành động nhằm triển khai thực hiện Tuyên bố hòa hợp ASEAN II (11/2004 tại Vientiane), bao gồm: Kế hoạch hành động của ASC, Kế hoạch hành động của ASCC, Hiệp định khung ASEAN về 11 lĩnh vực ưu tiên hội nhập và Chương trình Hành động Vientiane (VAP). Trong bối cảnh đó, ngành du lịch Việt Nam và việc giáo dục đào tạo nhân lực du lịch sẽ phải làm gì để đón đầu hội nhập và cạnh tranh trong khối ASEAN nói riêng và cạnh tranh quốc tế nói chung. 
2. NỘI DUNG
2.1 Tìm hiểu cộng đồng ASEAN năm 2015
2.1.1 Giới thiệu Cộng đồng ASEAN năm 2015
Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Bali II) vào tháng 10/2003, toàn khối đã nhất trí đề ra mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với ba trụ cột chính: Cộng đồng An ninh (ASC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC); đồng thời khẳng định ASEAN sẽ tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài, vì mục tiêu chung là hòa bình, ổn định và hợp tác cùng có lợi ở khu vực.
Để triển khai và kế tục Chương trình Hành động Hà Nội (HPA), ASEAN đã đề ra Chương trình Hành động Vientiane (VAP) cho giai đoạn 2004-2010 và các Kế hoạch hành động  để xây dựng ba trụ cột Cộng đồng về chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội, trong đó có hợp phần quan trọng là thực hiện Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI) nhằm giúp thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN với kế hoạch hành động và các dự án.
Để kịp thích ứng với những chuyển biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình quốc tế và khu vực cũng như trên cơ sở những thành tựu của ASEAN trong 40 năm qua nhất là kết quả thực hiện Chương trình Hành động Vientiane (VAP), Lãnh đạo các nước ASEAN tháng 01/2007 đã quyết tâm đẩy nhanh tiến trình liên kết nội khối dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN, nhất trí mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 thay vì vào năm 2020 như thỏa thuận trước đây.
ASEAN khẩn trương xúc tiến xây dựng các Kế hoạch tổng thể để xây dựng Cộng đồng Chính trị-An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC), đề ra mục tiêu và thời hạn hoàn thành đối với từng biện pháp, hoạt động cụ thể.
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 13 (11/2007), Lãnh đạo các nước đã ký Hiến chương ASEAN nhằm tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho gia tăng liên kết khu vực, trước mắt là hỗ trợ mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Hiến chương ASEAN đã chính thức có hiệu lực ngày 15/12/2008.
Hội nghị Cấp cao ASEAN-14 (tháng 2/2009) đã thông qua lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN kèm theo 3 Kế hoạch tổng thể xây dựng 3 trụ cột Cộng đồng ASEAN và Kế hoạch công tác về IAI giai đoạn 2 (2008-2015). Đây là một văn kiện quan trọng như một chương trình hành động tổng thể đề ra khuôn khổ và các bước triển khai cụ thể, để ASEAN tiếp tục đẩy mạnh nỗ lực thực hiện mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, kế tục Chương trình Hành động Vientiane (VAP).
2.1.2 Mục tiêu của Cộng đồng ASEAN năm 2015
Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN là xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ liên kết sâu rộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; nhưng không phải là một tổ chức siêu quốc gia và không khép kín mà vẫn mở rộng hợp tác với bên ngoài.
Cộng đồng ASEAN sẽ được hình thành dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng Chính trị - An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội. Quan hệ đối ngoại của ASEAN cũng như mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN (nhất là: IAI - Sáng kiến Liên kết ASEAN) được lồng ghép vào nội dung của từng trụ cột Cộng đồng ASEAN.
2.1.3 Triển vọng của Cộng đồng ASEAN năm 2015
Trên cơ sở phân tích các nhân tố tác động đến triển vọng của ASEAN trong 10-15 năm tới, dự báo khả năng hiện thực nhất là ASEAN sẽ chuyển hóa dần từ một Hiệp hội khá lỏng lẻo thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ có mức độ ràng buộc pháp lý cao hơn và liên kết sâu rộng hơn, nhưng không trở thành một tổ chức siêu quốc gia; sẽ trở thành một thực thể chính trị, kinh tế gắn kết hơn, một cộng đồng “thống nhất trong đa dạng”; tiếp tục là tổ chức hợp tác khu vực mở và có vai trò quan trọng ở Châu Á-Thái Bình Dương.
Liên kết ASEAN sâu rộng hơn nhưng mức độ liên kết sẽ không đồng đều trong ba lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội, do sự đa dạng khá lớn giữa các nước thành viên, nhất là về khoảng cách phát triển, chế độ chính trị, xã hội cũng như những tính toán chiến lược và lợi ích quốc gia.
2.2 Thách thức, cơ hội và giải pháp của giáo dục, đào tạo nhân lực du lỊch Việt Nam trước thềm ASEAN 2015
2.2.1 Những thách thức
2.2.1.1 Đối mặt với khó khăn do sự không đồng đều chất lượng
Dưới góc độ du lịch của khối ASEAN, Việt Nam luôn phải vất vả cạnh tranh với các điểm đến hàng đầu của các nước này trong việc thu hút du khách. Các điểm đến du lịch ở Malaysia, Thái Lan, Singapore được đầu tư nhiều kinh phí, có tay nghề lao động với trình độ chuyên môn cao, luôn đổi mới về sản phẩm và thương hiệu du lịch. Thách thức số một là bối cảnh các nước ASEAN sẽ gia nhập cộng đồng chung ASEAN vào năm 2015, Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều khó khăn do sự không đồng đều về chất lượng như nguồn nhân lực du lịch, chất lượng dịch vụ, năng lực kinh doanh du lịch, “Nếu không chuẩn bị tốt, khai thác tốt thì doanh nghiệp Việt Nam không chỉ mất thị trường khách du lịch trong khu vực mà thị trường khách nội địa cũng khó giữ vững”.                           
2.2.1.2 Năng suất lao động thấp và tay nghề kém [2]
Trong tình hình hiện nay chất lượng lao động là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành bại trong cạnh tranh quốc tế nói chung và cạnh tranh du lịch nói riêng. Trong những năm qua, Việt Nam gặp rất nhiều bất lợi trong cạnh tranh du lịch, yếu tố then chốt của sự hạn chế này là Việt Nam có một lực lượng lao động du lịch có chất lượng thấp, đây chính là thách thức thứ hai. Vì vậy, việc nâng cao tay nghề lao động du lịch nước ta đang là một đòi hỏi cấp thiết. Chất lượng lao động chỉ có thể được nâng cao thông qua qua chương trình giáo dục đào tạo có chủ trương đúng đắn, trong đó đào tạo nghề du lịch là một cấu thành quan trọng, yêu cầu này đòi hỏi công tác dạy nghề phải phát triển nhanh cả về qui mô lẫn chất lượng.  
2.2.1.3 Mất khách do hạn chế tầm nhìn quản lý du lịch
Những hạn chế tầm nhìn và yếu kém về công tác quản lý du lịch dẫn đến việc triển khai chưa đồng bộ, chưa hiệu quả là thách thức thứ ba của ngành. Tình trạng mất vệ sinh, an ninh, trật tự tại các điểm du lịch vẫn thường xuyên xảy ra. Tình trạng taxi dù, hiện tượng chèo kéo, bán hàng rong, lừa đảo, ép khách du lịch vẫn có ở nhiều địa phương nhất là mùa cao điểm. Tình trạng ô nhiễm, quá tải, hoặc thiếu quản lý do khai thác quá mức tài nguyên du lịch hoặc bị sử dụng sai mục đích, bị tàn phá dẫn đến tác động tiêu cực đến phát triển du lịch ở một số địa phương. Môi trường du lịch ở nhiều nơi bị ô nhiềm hoặc bị hủy hoại nghiêm trọng. Công tác quản lý môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại nhiều điểm du lịch còn rất yếu kém và chưa được coi trọng. Hiện tượng xây dựng tràn lan thủy điện tại nhiều địa phương, đặc biệt là ở khu du lịch Sapa, Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, các tỉnh Tây Nguyên, miền Trung đã hủy hoại tài nguyên và môi trường điểm đến tác động xấu đến phát triển du lịch.
Tính chuyên nghiệp khi xây dựng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá cũng chưa nâng cao. Sản phẩm du lịch Việt Nam vẫn chậm đổi mới, thiếu đặc sắc, ít sáng tạo và còn trùng lặp giữa các vùng miền, giá trị gia tăng hàm chứa trong sản phẩm du lịch thấp, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết trong phát triển sản phẩm. Kinh phí nhà nước đầu tư còn hạn chế cho nên chưa tạo được hiệu ứng kích cầu đi du lịch Việt Nam tại các thị trường mục tiêu.
2.2.1.4 Thách thức của việc toàn cầu hóa và yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế
Thách thức thứ tư là vấn đề cạnh tranh giữa các điểm đến trong khu vực đang diễn ra ngày càng quyết liệt hơn, nhất là việc xây dựng hình ảnh, thương hiệu quốc gia. Vấn đề nhân lực du lịch không còn lợi thế chỉ ở số lượng mà cần tăng giá trị gia tăng của mỗi công đoạn sản xuất, tăng năng suất lao động. Điều đó đúng vì năng lực cạnh tranh Việt Nam liên tục bị tụt hạng trong vài năm gần đây, năng suất lao động nước ta còn rất thấp so với các nước trong khu vực và thế giới. Điều đó đã làm cho nền kinh tế Việt Nam không tận dụng được lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế. [1]
2.2.1.5 Tự do di chuyển lao động – thế cạnh tranh mới trong ASEAN 2015 
Tự do di chuyển lao động trong khối ASEAN là thách thức thứ năm.
Đối với các chính phủ, tự do di chuyển lao động, bảo đảm sự cam kết và thỏa thuận về thương mại quốc tế, khuyến khích trao đổi điển hình tốt và chia sẻ thông tin giữa các đối tác. Điều này có thể dẫn tới:
- Chi phí giảm;
- Sức cạnh tranh gia tăng;
- Khả năng xâm nhập thị trường cao; và dòng chảy thương mại tự do hơn.
Tất cả nhằm giải quyết sự mất cân bằng cung và cầu về việc làm du lịch trong khu vực ASEAN và thiết lập cơ chế cho sự tự do dịch chuyển lao động du lịch lành nghề, được chứng nhận trong toàn khu vực ASEAN.
2.2.2 Những cơ hội
Bên cạnh những thách thức thì cũng không ít cơ hội cho giáo dục và đào tạo du lịch của Việt Nam khi Cộng đồng ASEAN hình thành.
2.2.2.1 Tiềm năng, cơ hội việc làm nhiều hơn[4]
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), ngành du lịch thế giới cung cấp hơn 235 triệu việc làm (trực tiếp và gián tiếp) năm 2010 (chiếm 8% tổng số việc làm hay cứ 12,3 việc làm có một việc làm trong ngành du lịch). Kinh tế toàn cầu của ngành du lịch dự kiến sẽ cung cấp 296 triệu việc làm vào năm 2019.
Theo Quy hoạch phát triển tổng thể du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, xác định chỉ tiêu khách du lịch, tổng thu từ du lịch, tỷ trọng GDP và nguồn nhân lực cho du lịch:  
                                                                                                                                      Đvt: lượt
Các chỉ tiêu
2010
2015
2020
2025
2030
Khách quốc tế
5.049.855
7.500.000
10.500.000
14.000.000
18.000.000
Khách nội địa
28.000.000
37.000.000
45.500.000
58.000.000
71.000.000
Tổng thu từ du lịch (tỷ USD)
4,8
10,3
18,5
26,6
35,2
Tỷ trọng tổng thu du lịch trong tổng GDP toàn quốc %
5,8
6,0
7,0
7,3
7,5
Lao động trực tiếp trong ngành du lịch  
478.065
620.000
870.000
1.050.000
1.400.000
Tổng lao động du lịch và liên quan (trực tiếp và gián tiếp)
1.625.421
2.108.000
2.958.000
3.570.000
4.760.000
             Bảng: Dự báo chỉ tiêu phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011 -2030 [5] 
(Nguồn: Viện NCPT Du lịch)
2.2.2.2 Bằng cấp được công nhận trong Cộng đồng ASEAN 15?
Hiện nay trong lĩnh vực văn hóa giáo dục thì ASEAN đã thành lập mạng lưới các trường đại học với 26 trường tham gia. Việt Nam có Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TPHCM, Đại học Cần Thơ tham gia mạng lưới này. Tương lai, hợp tác giáo dục đào tạo là lĩnh vực sẽ còn nhiều trao đổi, cải thiện vì trình độ giáo dục đại học trong các nước ASEAN còn khác nhau và việc công nhận tín chỉ giữa các trường đại học có thể được xem xét công nhận lẫn nhau.
Trong Cộng đồng ASEAN, việc thực hiện công nhận tay nghề cũng là một lĩnh vực được đặt ra. Để có thể công nhận những chứng chỉ về hành nghề hay tay nghề trong những lĩnh vực cụ thể như trong y tế, du lịch và một số hành nghề tạo điều kiện cho công dân của các nước ASEAN tìm được việc làm, không chỉ ở nước mình mà ở các nước khác trong khu vực ASEAN với mức lương hợp lý hơn, hấp dẫn hơn.
2.2.2.3 Hội nhập sâu rộng về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng
 Nhiều chuyên gia cho rằng, nếu như sinh viên thiếu và yếu các kỹ năng mềm, kỹ năng nghề nghiệp sẽ khó khăn trong quá trình hội nhập ASEAN. TS. Lê Thị Thanh Mai, trưởng Ban Công tác Sinh viên ĐHQG-HCM, phát biểu: “Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa là xu thế tất yếu. Xu thế này sẽ tạo ra thị trường lao động toàn cầu, công dân toàn cầu và thanh niên toàn cầu. Để thanh niên tự tin hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, bên cạnh các hoạt động hỗ trợ từ nhà trường, từng cá nhân sinh viên phải không ngừng tự học, rèn luyện, tự tu dưỡng, tự chịu trách nhiệm để trang bị cho mình kỹ năng, kỷ luật, có tác phong của lao động chất lượng cao” [6].
2.2.3 Các giải pháp 
2.2.3.1 Cần một định hướng giáo dục đào tạo nhân lực du lịch Việt Nam tầm vĩ mô
Như đã biết, Cộng đồng Kinh tế (AEC) một trong ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN, là mô hình liên kết kinh tế khu vực dựa trên và nâng cao những cơ chế liên kết kinh tế hiện có của ASEAN có bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do di chuyển lao động và di chuyển vốn tự do hơn.
Khi Cộng đồng ASEAN chính thức hình thành năm 2015, thì ngành du lịch Việt Nam sẽ phải đối đầu như thế nào dưới góc độ tự do di chuyển lao động trong đó có di chuyển lao động du lịch?
Hướng tới Cộng đồng ASEAN năm 2015, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020” và “Chiến lược phát triển giáo dục dạy nghề 2011 – 2020” với mục tiêu tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục và dạy nghề được nâng cao một cách toàn diện. (chinhphu.vn)
2.2.3.2 Xây dựng tiêu chuẩn lao động du lịch phù hợp và được công nhận lẫn nhau giữa các nước ASEAN [3]
Mười tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam được xây dựng bằng tiếng Anh, dịch ra tiếng Việt và được đệ trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo thứ tự: Lễ tân, Buồng, Nhà hàng, Quản lý du lịch, Hướng dẫn viên du lịch, Nấu ăn chuyên nghiệp, Quản lý khách sạn, Thuyết minh viên du lịch, Phục vụ trên tàu du lịch, Vận hành doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Mục tiêu của Dự án EU (Dự án Chương trình phát triển Năng lực du lịch có Trách nhiệm với Môi trường và Xã hội – do Liên minh Châu Âu tài trợ) là nhằm củng cố năng lực thực hiện Thỏa thuận Thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN, được các bộ trưởng ngành du lịch ký kết vào năm 2009. Thỏa thuận này hướng tới tăng cường chất lượng và tiêu chuẩn hóa nguồn nhân lực, đồng thời tạo điều kiện cho việc dịch chuyển lao động du lịch được đào tạo và được công nhận ở tất cả các cấp độ trong khu vực.
Tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam mới được cập nhật và mở rộng cũng bao gồm các chủ đề du lịch có trách nhiệm và được xây dựng phù hợp với các yêu cầu của thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN, cần thiết phải phổ biến rộng rãi thông tin về việc đã có tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam mới đối với ngành du lịch, các trường và cơ quan quản lý nhà nước ở các tỉnh và cộng đồng.
2.2.3.3 Đầu tư cơ sở đào tạo du lịch chất lượng ngang tầm ASEAN và quốc tế
Theo Bộ LĐTB&XH, trường nghề đạt chuẩn chất lượng ngang tầm ASEAN và quốc tế ngoài việc đạt các tiêu chí kiểm định chất lượng còn phải có ít nhất 5 nghề trọng điểm để đào tạo, trong đó tối thiểu 3 nghề cấp độ ASEAN và quốc tế. Quy mô đào tạo tối thiểu 1.000 học sinh, sinh viên; tuyển sinh tối thiểu 50 học sinh, sinh viên vào các nghề trọng điểm/năm. Ngoài ra, phải có hệ thống bảo đảm chất lượng do tổ chức City & Guilds (Anh Quốc) công nhận; ít nhất 90% học sinh, sinh viên có việc làm trong 3 tháng kể từ khi tốt nghiệp; mức lương khởi điểm bình quân sau khi tốt nghiệp ít nhất bằng 2 lần lương tối thiểu mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động.
2.2.3.4 Chương trình cho giáo viên đào tạo nhân lực du lịch theo chuẩn quốc tế 
Từ năm 2011, Bộ LĐTB&XH đã triển khai đề án đào tạo nghề cho giáo viên theo chuẩn quốc tế. Riêng đội ngũ giáo viên dạy nghề đủ tiêu chuẩn cũng đã được gửi tới một số nước để học tập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong nước. Cụ thể trong năm 2014, Tổng cục Dạy nghề sẽ lựa chọn khoảng 600 giáo viên được sang Úc đào tạo 4 tháng (3 tháng đào tạo nghề, 1 tháng học sư phạm). Đây là một trong những bước tiến đổi mới trong công tác dạy nghề và dạy nghề du lịch trong thời gian tới.
2.2.3.5 Xem doanh nghiệp du lịch là nòng cốt, là động lực phát triển của du lịch VN
Cần xem các doanh nghiệp du lịch là nòng cốt, động lực phát triển của ngành du lịch Việt Nam ở cấp độ vĩ mô. Ngoài ra, để có thể tận dụng cơ hội của hội nhập và vượt qua thách thức, Chính phủ tạo điều kiện hỗ trợ cho doanh nghiệp du lịch hơn nữa, đồng thời bản thân các doanh nghiệp du lịch cũng phải nỗ lực chủ động triển khai các biện pháp nhằm đối phó với khó khăn và tận dụng thời cơ mà hội nhập đem lại như: nâng cao chất lượng dịch vụ và chất lượng sản phẩm du lịch; xây dựng uy tín, thương hiệu; chú trọng nghiên cứu thị trường, khảo sát và đầu tư những sản phẩm du lịch mới, có chất lượng; tham gia các sự kiện du lịch trong nước và quốc tế; duy trì ổn định giá cả dịch vụ...[7]
3. KẾT LUẬN
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng với sự phát triển kinh tế quốc gia nói riêng và kinh tế ASEAN nói chung. Ở góc độ thế giới, du lịch chiếm vị trí hàng đầu trong thương mại toàn cầu, được coi là ngành xuất khẩu và tạo việc làm lớn nhất thế giới. Theo Tổ chức Du lịch thế giới, trong thế kỷ XXI, du lịch trở thành hoạt động kinh tế quan trọng nhất trên phạm vi toàn cầu. Với vai trò ngày càng tăng của ngành Du lịch, ngày càng nhiều quốc gia coi trọng phát triển du lịch, coi du lịch là động lực chính để phát triển kinh tế-xã hội.  
Toàn khối ASEAN năm 2015 sẽ tiến tới một cộng đồng “thống nhất trong đa dạng”, tiếp tục là tổ chức hợp tác khu vực mở và có vai trò quan trọng ở Châu Á-Thái Bình Dương. Do vậy, liên kết ASEAN sâu rộng hơn trong ba lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội là những tính toán chiến lược quan trọng. Việc xem xét lợi ích của quốc gia nói chung và lợi ích ngành du lịch nói riêng phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể, xuyên suốt, trong đó không thể xem nhẹ việc giáo dục đào tạo tay nghề chuyên nghiệp của con người làm du lịch Việt Nam.

Bài được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Toàn cầu hóa du lịch, địa phương hóa du lịch”. Trường Cao đẳng Văn hóa, nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn ngày 6,713/2015

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Báo Hải Quan (2014), Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho DN.
[2]. Báo Nông Nghiệp Việt Nam (2014), Năm 2014 năm “khởi sắc” của đào tạo nghề,  số ra ngày 24/02/2014
[3]. Dự án EU (do Liên minh Châu Âu tài trợ), Đề xuất chiến lược marketing du lịch Việt Nam đến năm 2020 & Kế hoạch hành động: 2013-2015.  
[4]. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) (2010), Phát triển và thách thức trong ngành khách sạn và du lịch, Bài trình bày tại Diễn đàn đối thoại toàn cầu về Ngành khách sạn, ăn uống và du lịch, Giơ-ne-vơ 23-24/11/2010.  
[5]. Tổng cục du lịch (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội. tr 104,129.
[6]. Hội thảo “Giải pháp phát triển nghề nghiệp hướng đến ASEAN 2015”, tổ chức ngày 16/11/2013, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM).
[7]. Thu Thủy (2013), Doanh nghiệp du lịch là nòng cốt, động lực phát triển của ngành du lịch, Báo QĐND. Thứ tư, 04/12/2013 | 15:47 GMT+7
CÁC WEBSITE
[01]. www.tvet-vietnam.org  
[02]. www.chinhphu.vn
[03]. www.vtcb.org.vn
[04]. www.huongnghiep24h.net
[05].www.baomoi.com