Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

CỘNG ĐỒNG ASEAN NĂM 2015 – THÁCH THỨC, CƠ HỘI VÀ GIẢI PHÁP TRONG GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH VIỆT NAM

TÓM TẮT
Việt Nam luôn phải cạnh tranh với các điểm đến hàng đầu của các nước trong khối ASEAN trong việc thu hút khách du lịch. Các điểm đến du lịch ở Malaysia, Thái Lan, Singapore được đầu tư nhiều kinh phí, người lao động có tay nghề lao động với trình độ chuyên môn cao, các doanh nghiệp luôn đổi mới về sản phẩm và nâng cao thương hiệu du lịch. Thách thức lớn nhất là bối cảnh các nước Asean sẽ gia nhập cộng đồng chung ASEAN vào năm 2015, Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều thách thức do sự không đồng đều về chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng dịch vụ, năng lực kinh doanh. Nếu Việt Nam không chuẩn bị tốt, khai thác tốt thì các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ mất thị trường khách du lịch trong khu vực mà thị trường khách nội địa cũng khó giữ vững.                          
Toàn khối ASEAN năm 2015 sẽ tiến tới một cộng đồng “thống nhất trong đa dạng”, tiếp tục là tổ chức hợp tác khu vực mở và có vai trò quan trọng ở Châu Á-Thái Bình Dương. Do vậy, liên kết ASEAN sâu rộng hơn trong ba lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội là những tính toán chiến lược quan trọng. Việc xem xét lợi ích của quốc gia nói chung và lợi ích ngành du lịch nói riêng phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể, xuyên suốt, trong đó không thể xem nhẹ việc giáo dục đào tạo tay nghề chuyên nghiệp của con người làm du lịch Việt Nam.
Key word: Cộng đồng ASEAN, AEC, ba trụ cột, giáo dục đào tạo nhân lực du lịch, thách thức, cơ hội
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có những bước chuyển mạnh mẽ nhằm tăng cường liên kết khu vực, tận dụng những cơ hội mới đang mở ra cũng như ứng phó hiệu quả hơn với các thách thức mới ngay từ những ngày đầu thế kỷ 21. Việt Nam đã đóng vai trò tích cực cùng các nước ASEAN xây dựng và thông qua Tuyên bố hòa hợp ASEAN II tại Bali, Indonesia (10/2003), đề ra những định hướng chiến lược cho sự phát triển của ASEAN, hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN năng động, tự cường và gắn kết vào năm 2015, với ba trụ cột chính là Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN (ASCC) - ASCC là sáng kiến của Việt Nam; các Kế hoạch hành động nhằm triển khai thực hiện Tuyên bố hòa hợp ASEAN II (11/2004 tại Vientiane), bao gồm: Kế hoạch hành động của ASC, Kế hoạch hành động của ASCC, Hiệp định khung ASEAN về 11 lĩnh vực ưu tiên hội nhập và Chương trình Hành động Vientiane (VAP). Trong bối cảnh đó, ngành du lịch Việt Nam và việc giáo dục đào tạo nhân lực du lịch sẽ phải làm gì để đón đầu hội nhập và cạnh tranh trong khối ASEAN nói riêng và cạnh tranh quốc tế nói chung. 
2. NỘI DUNG
2.1 Tìm hiểu cộng đồng ASEAN năm 2015
2.1.1 Giới thiệu Cộng đồng ASEAN năm 2015
Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Bali II) vào tháng 10/2003, toàn khối đã nhất trí đề ra mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với ba trụ cột chính: Cộng đồng An ninh (ASC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC); đồng thời khẳng định ASEAN sẽ tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài, vì mục tiêu chung là hòa bình, ổn định và hợp tác cùng có lợi ở khu vực.
Để triển khai và kế tục Chương trình Hành động Hà Nội (HPA), ASEAN đã đề ra Chương trình Hành động Vientiane (VAP) cho giai đoạn 2004-2010 và các Kế hoạch hành động  để xây dựng ba trụ cột Cộng đồng về chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội, trong đó có hợp phần quan trọng là thực hiện Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI) nhằm giúp thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN với kế hoạch hành động và các dự án.
Để kịp thích ứng với những chuyển biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình quốc tế và khu vực cũng như trên cơ sở những thành tựu của ASEAN trong 40 năm qua nhất là kết quả thực hiện Chương trình Hành động Vientiane (VAP), Lãnh đạo các nước ASEAN tháng 01/2007 đã quyết tâm đẩy nhanh tiến trình liên kết nội khối dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN, nhất trí mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 thay vì vào năm 2020 như thỏa thuận trước đây.
ASEAN khẩn trương xúc tiến xây dựng các Kế hoạch tổng thể để xây dựng Cộng đồng Chính trị-An ninh (APSC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC), đề ra mục tiêu và thời hạn hoàn thành đối với từng biện pháp, hoạt động cụ thể.
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 13 (11/2007), Lãnh đạo các nước đã ký Hiến chương ASEAN nhằm tạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho gia tăng liên kết khu vực, trước mắt là hỗ trợ mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Hiến chương ASEAN đã chính thức có hiệu lực ngày 15/12/2008.
Hội nghị Cấp cao ASEAN-14 (tháng 2/2009) đã thông qua lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN kèm theo 3 Kế hoạch tổng thể xây dựng 3 trụ cột Cộng đồng ASEAN và Kế hoạch công tác về IAI giai đoạn 2 (2008-2015). Đây là một văn kiện quan trọng như một chương trình hành động tổng thể đề ra khuôn khổ và các bước triển khai cụ thể, để ASEAN tiếp tục đẩy mạnh nỗ lực thực hiện mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, kế tục Chương trình Hành động Vientiane (VAP).
2.1.2 Mục tiêu của Cộng đồng ASEAN năm 2015
Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN là xây dựng Hiệp hội thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ liên kết sâu rộng hơn và ràng buộc hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; nhưng không phải là một tổ chức siêu quốc gia và không khép kín mà vẫn mở rộng hợp tác với bên ngoài.
Cộng đồng ASEAN sẽ được hình thành dựa trên 3 trụ cột là Cộng đồng Chính trị - An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội. Quan hệ đối ngoại của ASEAN cũng như mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN (nhất là: IAI - Sáng kiến Liên kết ASEAN) được lồng ghép vào nội dung của từng trụ cột Cộng đồng ASEAN.
2.1.3 Triển vọng của Cộng đồng ASEAN năm 2015
Trên cơ sở phân tích các nhân tố tác động đến triển vọng của ASEAN trong 10-15 năm tới, dự báo khả năng hiện thực nhất là ASEAN sẽ chuyển hóa dần từ một Hiệp hội khá lỏng lẻo thành một tổ chức hợp tác liên Chính phủ có mức độ ràng buộc pháp lý cao hơn và liên kết sâu rộng hơn, nhưng không trở thành một tổ chức siêu quốc gia; sẽ trở thành một thực thể chính trị, kinh tế gắn kết hơn, một cộng đồng “thống nhất trong đa dạng”; tiếp tục là tổ chức hợp tác khu vực mở và có vai trò quan trọng ở Châu Á-Thái Bình Dương.
Liên kết ASEAN sâu rộng hơn nhưng mức độ liên kết sẽ không đồng đều trong ba lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội, do sự đa dạng khá lớn giữa các nước thành viên, nhất là về khoảng cách phát triển, chế độ chính trị, xã hội cũng như những tính toán chiến lược và lợi ích quốc gia.
2.2 Thách thức, cơ hội và giải pháp của giáo dục, đào tạo nhân lực du lỊch Việt Nam trước thềm ASEAN 2015
2.2.1 Những thách thức
2.2.1.1 Đối mặt với khó khăn do sự không đồng đều chất lượng
Dưới góc độ du lịch của khối ASEAN, Việt Nam luôn phải vất vả cạnh tranh với các điểm đến hàng đầu của các nước này trong việc thu hút du khách. Các điểm đến du lịch ở Malaysia, Thái Lan, Singapore được đầu tư nhiều kinh phí, có tay nghề lao động với trình độ chuyên môn cao, luôn đổi mới về sản phẩm và thương hiệu du lịch. Thách thức số một là bối cảnh các nước ASEAN sẽ gia nhập cộng đồng chung ASEAN vào năm 2015, Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều khó khăn do sự không đồng đều về chất lượng như nguồn nhân lực du lịch, chất lượng dịch vụ, năng lực kinh doanh du lịch, “Nếu không chuẩn bị tốt, khai thác tốt thì doanh nghiệp Việt Nam không chỉ mất thị trường khách du lịch trong khu vực mà thị trường khách nội địa cũng khó giữ vững”.                           
2.2.1.2 Năng suất lao động thấp và tay nghề kém [2]
Trong tình hình hiện nay chất lượng lao động là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành bại trong cạnh tranh quốc tế nói chung và cạnh tranh du lịch nói riêng. Trong những năm qua, Việt Nam gặp rất nhiều bất lợi trong cạnh tranh du lịch, yếu tố then chốt của sự hạn chế này là Việt Nam có một lực lượng lao động du lịch có chất lượng thấp, đây chính là thách thức thứ hai. Vì vậy, việc nâng cao tay nghề lao động du lịch nước ta đang là một đòi hỏi cấp thiết. Chất lượng lao động chỉ có thể được nâng cao thông qua qua chương trình giáo dục đào tạo có chủ trương đúng đắn, trong đó đào tạo nghề du lịch là một cấu thành quan trọng, yêu cầu này đòi hỏi công tác dạy nghề phải phát triển nhanh cả về qui mô lẫn chất lượng.  
2.2.1.3 Mất khách do hạn chế tầm nhìn quản lý du lịch
Những hạn chế tầm nhìn và yếu kém về công tác quản lý du lịch dẫn đến việc triển khai chưa đồng bộ, chưa hiệu quả là thách thức thứ ba của ngành. Tình trạng mất vệ sinh, an ninh, trật tự tại các điểm du lịch vẫn thường xuyên xảy ra. Tình trạng taxi dù, hiện tượng chèo kéo, bán hàng rong, lừa đảo, ép khách du lịch vẫn có ở nhiều địa phương nhất là mùa cao điểm. Tình trạng ô nhiễm, quá tải, hoặc thiếu quản lý do khai thác quá mức tài nguyên du lịch hoặc bị sử dụng sai mục đích, bị tàn phá dẫn đến tác động tiêu cực đến phát triển du lịch ở một số địa phương. Môi trường du lịch ở nhiều nơi bị ô nhiềm hoặc bị hủy hoại nghiêm trọng. Công tác quản lý môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại nhiều điểm du lịch còn rất yếu kém và chưa được coi trọng. Hiện tượng xây dựng tràn lan thủy điện tại nhiều địa phương, đặc biệt là ở khu du lịch Sapa, Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, các tỉnh Tây Nguyên, miền Trung đã hủy hoại tài nguyên và môi trường điểm đến tác động xấu đến phát triển du lịch.
Tính chuyên nghiệp khi xây dựng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá cũng chưa nâng cao. Sản phẩm du lịch Việt Nam vẫn chậm đổi mới, thiếu đặc sắc, ít sáng tạo và còn trùng lặp giữa các vùng miền, giá trị gia tăng hàm chứa trong sản phẩm du lịch thấp, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết trong phát triển sản phẩm. Kinh phí nhà nước đầu tư còn hạn chế cho nên chưa tạo được hiệu ứng kích cầu đi du lịch Việt Nam tại các thị trường mục tiêu.
2.2.1.4 Thách thức của việc toàn cầu hóa và yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế
Thách thức thứ tư là vấn đề cạnh tranh giữa các điểm đến trong khu vực đang diễn ra ngày càng quyết liệt hơn, nhất là việc xây dựng hình ảnh, thương hiệu quốc gia. Vấn đề nhân lực du lịch không còn lợi thế chỉ ở số lượng mà cần tăng giá trị gia tăng của mỗi công đoạn sản xuất, tăng năng suất lao động. Điều đó đúng vì năng lực cạnh tranh Việt Nam liên tục bị tụt hạng trong vài năm gần đây, năng suất lao động nước ta còn rất thấp so với các nước trong khu vực và thế giới. Điều đó đã làm cho nền kinh tế Việt Nam không tận dụng được lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế. [1]
2.2.1.5 Tự do di chuyển lao động – thế cạnh tranh mới trong ASEAN 2015 
Tự do di chuyển lao động trong khối ASEAN là thách thức thứ năm.
Đối với các chính phủ, tự do di chuyển lao động, bảo đảm sự cam kết và thỏa thuận về thương mại quốc tế, khuyến khích trao đổi điển hình tốt và chia sẻ thông tin giữa các đối tác. Điều này có thể dẫn tới:
- Chi phí giảm;
- Sức cạnh tranh gia tăng;
- Khả năng xâm nhập thị trường cao; và dòng chảy thương mại tự do hơn.
Tất cả nhằm giải quyết sự mất cân bằng cung và cầu về việc làm du lịch trong khu vực ASEAN và thiết lập cơ chế cho sự tự do dịch chuyển lao động du lịch lành nghề, được chứng nhận trong toàn khu vực ASEAN.
2.2.2 Những cơ hội
Bên cạnh những thách thức thì cũng không ít cơ hội cho giáo dục và đào tạo du lịch của Việt Nam khi Cộng đồng ASEAN hình thành.
2.2.2.1 Tiềm năng, cơ hội việc làm nhiều hơn[4]
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), ngành du lịch thế giới cung cấp hơn 235 triệu việc làm (trực tiếp và gián tiếp) năm 2010 (chiếm 8% tổng số việc làm hay cứ 12,3 việc làm có một việc làm trong ngành du lịch). Kinh tế toàn cầu của ngành du lịch dự kiến sẽ cung cấp 296 triệu việc làm vào năm 2019.
Theo Quy hoạch phát triển tổng thể du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, xác định chỉ tiêu khách du lịch, tổng thu từ du lịch, tỷ trọng GDP và nguồn nhân lực cho du lịch:  
                                                                                                                                      Đvt: lượt
Các chỉ tiêu
2010
2015
2020
2025
2030
Khách quốc tế
5.049.855
7.500.000
10.500.000
14.000.000
18.000.000
Khách nội địa
28.000.000
37.000.000
45.500.000
58.000.000
71.000.000
Tổng thu từ du lịch (tỷ USD)
4,8
10,3
18,5
26,6
35,2
Tỷ trọng tổng thu du lịch trong tổng GDP toàn quốc %
5,8
6,0
7,0
7,3
7,5
Lao động trực tiếp trong ngành du lịch  
478.065
620.000
870.000
1.050.000
1.400.000
Tổng lao động du lịch và liên quan (trực tiếp và gián tiếp)
1.625.421
2.108.000
2.958.000
3.570.000
4.760.000
             Bảng: Dự báo chỉ tiêu phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2011 -2030 [5] 
(Nguồn: Viện NCPT Du lịch)
2.2.2.2 Bằng cấp được công nhận trong Cộng đồng ASEAN 15?
Hiện nay trong lĩnh vực văn hóa giáo dục thì ASEAN đã thành lập mạng lưới các trường đại học với 26 trường tham gia. Việt Nam có Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TPHCM, Đại học Cần Thơ tham gia mạng lưới này. Tương lai, hợp tác giáo dục đào tạo là lĩnh vực sẽ còn nhiều trao đổi, cải thiện vì trình độ giáo dục đại học trong các nước ASEAN còn khác nhau và việc công nhận tín chỉ giữa các trường đại học có thể được xem xét công nhận lẫn nhau.
Trong Cộng đồng ASEAN, việc thực hiện công nhận tay nghề cũng là một lĩnh vực được đặt ra. Để có thể công nhận những chứng chỉ về hành nghề hay tay nghề trong những lĩnh vực cụ thể như trong y tế, du lịch và một số hành nghề tạo điều kiện cho công dân của các nước ASEAN tìm được việc làm, không chỉ ở nước mình mà ở các nước khác trong khu vực ASEAN với mức lương hợp lý hơn, hấp dẫn hơn.
2.2.2.3 Hội nhập sâu rộng về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng
 Nhiều chuyên gia cho rằng, nếu như sinh viên thiếu và yếu các kỹ năng mềm, kỹ năng nghề nghiệp sẽ khó khăn trong quá trình hội nhập ASEAN. TS. Lê Thị Thanh Mai, trưởng Ban Công tác Sinh viên ĐHQG-HCM, phát biểu: “Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa là xu thế tất yếu. Xu thế này sẽ tạo ra thị trường lao động toàn cầu, công dân toàn cầu và thanh niên toàn cầu. Để thanh niên tự tin hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, bên cạnh các hoạt động hỗ trợ từ nhà trường, từng cá nhân sinh viên phải không ngừng tự học, rèn luyện, tự tu dưỡng, tự chịu trách nhiệm để trang bị cho mình kỹ năng, kỷ luật, có tác phong của lao động chất lượng cao” [6].
2.2.3 Các giải pháp 
2.2.3.1 Cần một định hướng giáo dục đào tạo nhân lực du lịch Việt Nam tầm vĩ mô
Như đã biết, Cộng đồng Kinh tế (AEC) một trong ba trụ cột của Cộng đồng ASEAN, là mô hình liên kết kinh tế khu vực dựa trên và nâng cao những cơ chế liên kết kinh tế hiện có của ASEAN có bổ sung thêm hai nội dung mới là tự do di chuyển lao động và di chuyển vốn tự do hơn.
Khi Cộng đồng ASEAN chính thức hình thành năm 2015, thì ngành du lịch Việt Nam sẽ phải đối đầu như thế nào dưới góc độ tự do di chuyển lao động trong đó có di chuyển lao động du lịch?
Hướng tới Cộng đồng ASEAN năm 2015, Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020” và “Chiến lược phát triển giáo dục dạy nghề 2011 – 2020” với mục tiêu tổng quát đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục và dạy nghề được nâng cao một cách toàn diện. (chinhphu.vn)
2.2.3.2 Xây dựng tiêu chuẩn lao động du lịch phù hợp và được công nhận lẫn nhau giữa các nước ASEAN [3]
Mười tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam được xây dựng bằng tiếng Anh, dịch ra tiếng Việt và được đệ trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo thứ tự: Lễ tân, Buồng, Nhà hàng, Quản lý du lịch, Hướng dẫn viên du lịch, Nấu ăn chuyên nghiệp, Quản lý khách sạn, Thuyết minh viên du lịch, Phục vụ trên tàu du lịch, Vận hành doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Mục tiêu của Dự án EU (Dự án Chương trình phát triển Năng lực du lịch có Trách nhiệm với Môi trường và Xã hội – do Liên minh Châu Âu tài trợ) là nhằm củng cố năng lực thực hiện Thỏa thuận Thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN, được các bộ trưởng ngành du lịch ký kết vào năm 2009. Thỏa thuận này hướng tới tăng cường chất lượng và tiêu chuẩn hóa nguồn nhân lực, đồng thời tạo điều kiện cho việc dịch chuyển lao động du lịch được đào tạo và được công nhận ở tất cả các cấp độ trong khu vực.
Tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam mới được cập nhật và mở rộng cũng bao gồm các chủ đề du lịch có trách nhiệm và được xây dựng phù hợp với các yêu cầu của thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN, cần thiết phải phổ biến rộng rãi thông tin về việc đã có tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam mới đối với ngành du lịch, các trường và cơ quan quản lý nhà nước ở các tỉnh và cộng đồng.
2.2.3.3 Đầu tư cơ sở đào tạo du lịch chất lượng ngang tầm ASEAN và quốc tế
Theo Bộ LĐTB&XH, trường nghề đạt chuẩn chất lượng ngang tầm ASEAN và quốc tế ngoài việc đạt các tiêu chí kiểm định chất lượng còn phải có ít nhất 5 nghề trọng điểm để đào tạo, trong đó tối thiểu 3 nghề cấp độ ASEAN và quốc tế. Quy mô đào tạo tối thiểu 1.000 học sinh, sinh viên; tuyển sinh tối thiểu 50 học sinh, sinh viên vào các nghề trọng điểm/năm. Ngoài ra, phải có hệ thống bảo đảm chất lượng do tổ chức City & Guilds (Anh Quốc) công nhận; ít nhất 90% học sinh, sinh viên có việc làm trong 3 tháng kể từ khi tốt nghiệp; mức lương khởi điểm bình quân sau khi tốt nghiệp ít nhất bằng 2 lần lương tối thiểu mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động.
2.2.3.4 Chương trình cho giáo viên đào tạo nhân lực du lịch theo chuẩn quốc tế 
Từ năm 2011, Bộ LĐTB&XH đã triển khai đề án đào tạo nghề cho giáo viên theo chuẩn quốc tế. Riêng đội ngũ giáo viên dạy nghề đủ tiêu chuẩn cũng đã được gửi tới một số nước để học tập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong nước. Cụ thể trong năm 2014, Tổng cục Dạy nghề sẽ lựa chọn khoảng 600 giáo viên được sang Úc đào tạo 4 tháng (3 tháng đào tạo nghề, 1 tháng học sư phạm). Đây là một trong những bước tiến đổi mới trong công tác dạy nghề và dạy nghề du lịch trong thời gian tới.
2.2.3.5 Xem doanh nghiệp du lịch là nòng cốt, là động lực phát triển của du lịch VN
Cần xem các doanh nghiệp du lịch là nòng cốt, động lực phát triển của ngành du lịch Việt Nam ở cấp độ vĩ mô. Ngoài ra, để có thể tận dụng cơ hội của hội nhập và vượt qua thách thức, Chính phủ tạo điều kiện hỗ trợ cho doanh nghiệp du lịch hơn nữa, đồng thời bản thân các doanh nghiệp du lịch cũng phải nỗ lực chủ động triển khai các biện pháp nhằm đối phó với khó khăn và tận dụng thời cơ mà hội nhập đem lại như: nâng cao chất lượng dịch vụ và chất lượng sản phẩm du lịch; xây dựng uy tín, thương hiệu; chú trọng nghiên cứu thị trường, khảo sát và đầu tư những sản phẩm du lịch mới, có chất lượng; tham gia các sự kiện du lịch trong nước và quốc tế; duy trì ổn định giá cả dịch vụ...[7]
3. KẾT LUẬN
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng với sự phát triển kinh tế quốc gia nói riêng và kinh tế ASEAN nói chung. Ở góc độ thế giới, du lịch chiếm vị trí hàng đầu trong thương mại toàn cầu, được coi là ngành xuất khẩu và tạo việc làm lớn nhất thế giới. Theo Tổ chức Du lịch thế giới, trong thế kỷ XXI, du lịch trở thành hoạt động kinh tế quan trọng nhất trên phạm vi toàn cầu. Với vai trò ngày càng tăng của ngành Du lịch, ngày càng nhiều quốc gia coi trọng phát triển du lịch, coi du lịch là động lực chính để phát triển kinh tế-xã hội.  
Toàn khối ASEAN năm 2015 sẽ tiến tới một cộng đồng “thống nhất trong đa dạng”, tiếp tục là tổ chức hợp tác khu vực mở và có vai trò quan trọng ở Châu Á-Thái Bình Dương. Do vậy, liên kết ASEAN sâu rộng hơn trong ba lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế và văn hóa - xã hội là những tính toán chiến lược quan trọng. Việc xem xét lợi ích của quốc gia nói chung và lợi ích ngành du lịch nói riêng phải được đặt trong mối quan hệ tổng thể, xuyên suốt, trong đó không thể xem nhẹ việc giáo dục đào tạo tay nghề chuyên nghiệp của con người làm du lịch Việt Nam.

Bài được đăng trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế “Toàn cầu hóa du lịch, địa phương hóa du lịch”. Trường Cao đẳng Văn hóa, nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn ngày 6,713/2015

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Báo Hải Quan (2014), Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức cho DN.
[2]. Báo Nông Nghiệp Việt Nam (2014), Năm 2014 năm “khởi sắc” của đào tạo nghề,  số ra ngày 24/02/2014
[3]. Dự án EU (do Liên minh Châu Âu tài trợ), Đề xuất chiến lược marketing du lịch Việt Nam đến năm 2020 & Kế hoạch hành động: 2013-2015.  
[4]. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) (2010), Phát triển và thách thức trong ngành khách sạn và du lịch, Bài trình bày tại Diễn đàn đối thoại toàn cầu về Ngành khách sạn, ăn uống và du lịch, Giơ-ne-vơ 23-24/11/2010.  
[5]. Tổng cục du lịch (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội. tr 104,129.
[6]. Hội thảo “Giải pháp phát triển nghề nghiệp hướng đến ASEAN 2015”, tổ chức ngày 16/11/2013, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM).
[7]. Thu Thủy (2013), Doanh nghiệp du lịch là nòng cốt, động lực phát triển của ngành du lịch, Báo QĐND. Thứ tư, 04/12/2013 | 15:47 GMT+7
CÁC WEBSITE
[01]. www.tvet-vietnam.org  
[02]. www.chinhphu.vn
[03]. www.vtcb.org.vn
[04]. www.huongnghiep24h.net
[05].www.baomoi.com

CON NGƯỜI TÀI NĂNG – NGUỒN NHÂN LỰC CẦN ĐƯỢC CHUẨN BỊ CHO TPP


 TÓM TẮT
Trong các cách để tạo ra năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp khi bước vào TPP (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement - Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương), con người tài năng chính là nguồn nhân lực cạnh tranh hữu hiệu nhất. Nó không chỉ mở ra cơ hội làm ăn cho doanh nghiệp mà còn là cơ hội việc làm và học tập rất lớn cho người lao động nói chung và lực lượng đông đảo sinh viên Việt Nam nói riêng, lợi thế thông qua con người tài năng được xem là yếu tố quan trọng nhất.
ABSTRACT
When Vietnam joins in TPP (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement), talent people are main power to compete with other countries in trade. Companies will grow rapidly their business if they have many talent people. Beside of, there are many students and young men to take the opportunity to improve their studying when Vietnam will be a member TPP.  
Từ khóa: TPP, con người tài năng, gia nhập TPP, hiệp định hợp tác kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương. Điều kiện tham gia TPP.
1. KHÁI LƯỢC TPP
 “Việt Nam được hưởng lợi nhiều trong số các nước đang đàm phán TPP, với tăng trưởng GDP và xuất khẩu có tiềm năng lớn hơn bất kỳ nước đối tác nào tham gia TPP. Nếu Việt Nam tận dụng được lợi thế đầy đủ, TPP sẽ cho phép khu vực tư nhân tiếp cận nhiều hơn các thị trường trọng điểm, kích thích cạnh tranh, thu hút đầu tư nước ngoài, giúp xây dựng cơ sở hạ tầng cho chuỗi cung ứng quan trọng, mang lại lợi ích đáng kể cho doanh nghiệp và người dân Việt Nam. TPP cũng sẽ hỗ trợ mục tiêu chiến lược của Việt Nam nhằm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa. Việc Việt Nam tham gia TPP có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng doanh nghiệp Mỹ vì nó sẽ thúc đẩy lòng tin của giới đầu tư và tạo thêm nhiều cơ hội làm ăn, kinh doanh tại đây”. Phát biểu của Ông Adam Sitkoff - CT Phòng Thương mại Mỹ (AmCham) tại Hà Nội.
Bà Phạm Chi Lan, kinh tế gia nổi tiếng của Việt Nam đã nêu nhận xét về lợi ích khi gia nhập TPP: “Cơ hội để Việt Nam cải thiện môi trường kinh doanh, cụ thể là tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước. Môi trường kinh doanh này tạo ra phát triển kinh tế, xã hội và chính trị, đưa đất nước đến tự do”.
Tổng thống Mỹ Obama đã khẳng định với người đồng cấp Mexico Enrique Peía Nieto và Thủ tướng Canada Stephen Harper rằng, Mỹ cam kết thông qua TPP trong năm 2014. Thông tin được loan báo bởi một quan chức Nhà Trắng vào trung tuần tháng 2/2014. TPP cũng là chủ đề chính trong chuyến công du của ông Obama thăm bốn nước Châu Á vào tháng 4/2014.
TPP đang được bàn thảo rốt ráo trên phạm rộng rãi của thế giới bởi lẽ TPP vừa là thách thức nhưng cũng vừa là cơ hội cho các nước. Tại Việt Nam, TPP mở ra nhiều cơ hội rất lớn cho cộng đồng doanh nhân Việt Nam nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung. Cánh cửa TPP mở ra là cơ hội cho những người trẻ vươn mình lớn dậy bước ra cạnh tranh và khẳng định trước cuộc chơi của thế giới.
1.1 TPP là gì?
TPP là chữ viết tắt của Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương), là một Hiệp định thương mại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương. Hiệp định thương mại tự do có tiêu chuẩn cao với phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm hầu hết các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế như thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường...
Hiệp định này được ký kết ngày 03.60.2005, có hiệu lực từ 28.05.2006 giữa 4 nước Singapore, Chile, New Zealand, Brunei. Tháng 09.2008, Hoa Kỳ bày tỏ đàm phán để tham gia TPP. Tháng 11.2008, các nước khác là Australia, Peru, Việt Nam cũng thể hiện ý định gia nhập. Tháng 10.2010, Malaysia chính thức thông báo muốn đàm phán tham gia TPP.
Năm 2010, có hai vòng đàm phán TPP cấp cao đã được tiến hành với sự tham gia của 4 nước thành viên cũ và 4 nước mới. Ngoài ra còn có một cuộc đàm phán giữa kỳ vào tháng 08.2010 tại Peru và một đàm phán vừa tiến hành tại Brunei (từ ngày 04 – 08.10.2010). Ngày 13.11.2010, Việt Nam tuyên bố tham gia vào TPP với tư cách thành viên đầy đủ. TPP được xem là thỏa thuận chiếm 40% GDP toàn cầu và chiếm khoảng 30% mậu dịch quốc tế.
Việt Nam tin rằng TPP sẽ tạo điều kiện tiếp cận và đẩy mạnh xuất khẩu tại các thị trường mới, cũng như duy trì các thị trường truyền thống.
Trong những năm qua, 50% đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là từ các nước thành viên TPP.
TPP dự kiến sẽ giúp nhiều ngành tại Việt Nam như may mặc, giày da, đồ gỗ…và khiến các sản phẩm của Việt Nam cạnh tranh hơn các sản phẩm của các nước khác. 
1.2 TPP – Điều kiện tham gia  
Khi muốn gia nhập WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới), quốc gia nào có đủ điều kiện thì được kết nạp. Việt Nam phải mất 12 năm mới được vào, Trung Quốc đến 15 năm và Nga phải chờ đến 18 năm để hoàn tất các điều kiện căn bản cho một nền kinh tế thị trường tự do.
Ở TPP, việc tham gia thông qua các cuộc đàm phán giữa các bên, tức là các nước phải thương lượng với nhau.  
1.3 TPP - Các thành viên
TPP nếu được ký kết sẽ giúp đẩy mạnh sự phát triển của các nền kinh tế, xóa bỏ rào cản về thương mại và đầu tư, tăng xuất khẩu và tạo thêm các cơ hội việc làm. Hiện có 12 nước tham gia đàm phán TPP, gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam. Đàm phán TPP hiện đã kết thúc phán phiên thứ 20 và đang phấn đấu hoàn thành trong năm 2014.
1.4 TPP - Việt Nam và những ngành được lợi
Khi bước chân vào TPP, sẽ là cơ hội lớn để Việt Nam phát triển quan hệ thương mại, đầu tư và hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và các thành viên có nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thu nhận khoa học kỹ thuật tiến bộ, nhất như Hoa Kỳ, Úc, Singapore và New Zealand khi thật sự mở cửa cho các thành viên đó đầu tư vào Việt Nam.
Lợi ích mà Việt Nam sẽ có là được tiếp cận nhiều hơn với thị trường mà thuế quan rất thấp dành cho các thành viên của TPP. Có khả năng thu hút đầu tư nước ngoài nhiều hơn trong khi Việt Nam cần nhiều vốn và kỹ thuật cao. Cơ hội để các mặt hàng chủ yếu của Việt Nam vào thị trường rộng lớn với mức thuế quan rất thấp, đưa đến việc miễn thuế. Việt Nam nếu hội đủ tiêu chuẩn của một nền kinh tế thị trường tự do, thì tất cả đi đến miễn thuế. (Theo Luật sư Eric C. Emerson - Công ty luật Steptoe&Johnson).
1.4.1 Ngành dệt may- da giày
Bước vào TPP, Việt Nam có thể gia tăng xuất khẩu dệt may, giày dép vào các thị trường lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ (hiện đóng góp 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam) với lợi thế cạnh tranh hơn các nước khác. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Việt Nam là dệt may đạt gần 18 tỷ USD năm 2013, duy trì tốc độ tăng trưởng 18%; trong đó khoảng 44% kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào Mỹ, 12% vào Nhật và 4% vào các nước TPP còn lại. Như vậy, khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu của dệt may Việt Nam được xuất khẩu vào các nước trong khối TPP. Với mặt hàng da giày, Việt Nam xuất khẩu gần 8,4 tỷ USD năm 2013, trong đó xuất khẩu sang Mỹ chiếm 28%. Nếu hiệp định TPP được ký kết, hàng dệt may và da giày của Việt Nam sẽ được hưởng thuế suất 0% thay vì 7% và 12% như hiện nay.
1.4.2 Ngành lúa gạo
Mặt hàng lúa gạo có cơ hội tăng trưởng lớn vì các đối thủ chính là Thái Lan, Ấn Độ chưa tham gia đàm phán TPP. Tham gia TPP với các thành viên chiếm đến 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, có thể giúp GDP tăng thêm khoảng 26,2 tỷ USD.
1.4.3 Ngành hàng đồ gỗ và nội thất
Là một trong những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch năm 2013 đạt 5,496 tỷ USD, chiếm khoảng 23% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ. Việc tham gia TPP và được hưởng ưu đãi thuế sẽ tạo nhiều thuận lợi hơn cho mặt hàng xuất khẩu này.
1.4.4 Ngành hàng thủy sản, nông sản
Là nhóm hàng xuất khẩu Việt Nam có lợi thế so sánh cao. Kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng lớn thứ 4 (sau dệt may, đồ gỗ và da giày), trong đó thủy sản chiếm 5,5% và nông sản chiếm 2,7% tổng kim ngạch xuất khẩu.
1.5 TPP – Việt Nam và những ngành bất lợi  
1.5.1 Ngành công nghiệp ôtô
Các doanh nghiệp ngành này sẽ phải chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài khi Việt Nam mở cửa thị trường hoàn toàn cho Hoa Kỳ và Nhật Bản theo TPP. Hơn nữa, công nghiệp phụ trợ đối với ngành công nghiệp ô tô hiện nay ở Việt Nam rất kém, quy mô thị trường nhỏ là những điểm bất lợi trong thu hút đầu tư vào ngành này.
1.5.2 Các sản phẩm nông nghiệp và thủy hải sản
Các mặt hàng chăn nuôi như thịt gà, lợn, bò... vốn là ngành lợi thế của Hoa Kỳ hoặc mặt hàng đường là thế mạnh của Australia. Việc giảm thuế quan khiến luồng hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt Nam gia tăng, do giá cả cạnh tranh hơn, hệ quả tất yếu là thị phần hàng hóa liên quan tại Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng lớn. Đối với hàng thủy sản, vốn thuế suất không còn là rào cản chính, song các biện pháp kiểm dịch SPS có thể lại trở nên ngặt nghèo hơn.
1.5.3 Ngành dược phẩm
Vấn đề sở hữu trí tuệ đối với ngành dược phẩm đòi hỏi yêu cầu rất cao, đó là nâng cao mức độ bảo hộ sáng chế và vấn đề dược phẩm, nâng cao mức độ bảo hộ dữ liệu thử nghiệm cho dược phẩm và nông hóa phẩm, sẽ là cản trở lớn đối với các doanh nghiệp dược phẩm trong nước khi cạnh tranh với các hãng dược phẩm nước ngoài trong quá trình mở rộng thị trường, cũng như khả năng tiếp cận giá thuốc rẻ của người tiêu dùng Việt. Đây luôn là vấn đề khó khăn đối với các nước đang phát triển trong đàm phán thương mại quốc tế.
1.5.4 Ngành dịch vụ tài chính - ngân hàng
Tham gia TPP sẽ là thách thức rất lớn đối với lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng của Việt Nam. Các đối tác đàm phán TPP đều là những nước có thị trường tài chính, ngân hàng rất phát triển (Hoa Kỳ, Australia, Singapore) hoặc đã mở cửa cho sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài (New Zealand), hoặc lợi ích sẽ không bị ảnh hưởng quá nhiều bởi việc mở cửa thị trường tài chính ngân hàng (Brunei). Do vậy, trong khuôn khổ đàm phán TPP, các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ và Australia sẽ có nhiều thuận lợi khi đưa ra những yêu cầu cao về mở cửa thị trường, vô hình chung gây sức ép đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Những ngành trên đây đều là ngành có đông đại diện trong BXH Fast500 năm 2013 (500 doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam), với tốc độ tăng trưởng doanh thu kép - CAGR trung bình ngành trong giai đoạn từ 2009 - 2012 đạt mức cao, đều trên mức trung bình toàn bảng xếp hạng là 44,7% cho thấy tiềm năng phát triển của những ngành này trong tương lai cũng được đánh giá khá tốt. Vì vậy, tận dụng tốt cơ hội, tiên lượng và hạn chế những rủi ro đi kèm khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên TPP sẽ là bước đệm đưa nền kinh tế Việt Nam bắt kịp với nhịp tăng trưởng của toàn cầu.
2. TPP - Cơ hội chuyển mình của sinh viên Việt Nam
Hàng năm, lượng sinh viên tốt nghiệp của các trường đại học ở Việt Nam gia nhập vào thị trường lao động trong nước và quốc tế ngày càng nhiều. Theo số liệu mới nhất của Bộ Giáo dục & Đào tạo, tính đến thời điểm tháng 6/2012, hàng năm có khoảng gần 319.000 sinh viên đại học, cao đẳng và hơn 15.000 học viên cao học, nghiên cứu sinh tốt nghiệp ra trường. Điều này làm tính cạnh tranh trên cả hai thị trường cũng gia tăng. Những sinh viên nào nhận thức đúng về sự cạnh tranh việc làm sau khi tốt nghiệp và có sự chuẩn bị trước cho mình khả năng cạnh tranh sẽ nỗ lực học tập, thực học, tự khẳng định được giá trị bản thân ngay từ khi còn ngồi trên giảng đường và họ sẽ thành công.
Trong thực tế, khả năng cạnh tranh cao đã tạo ra cơ hội cho một số sinh viên trở thành những “công dân toàn cầu”, sống và làm việc ở nhiều quốc gia khác nhau, tìm được chỗ đứng của mình trên thị trường lao động quốc tế vốn dĩ rất khắt khe trong các tiêu chí tuyển dụng và làm việc. Tại thị trường lao động trong nước, khá nhiều sinh viên được tuyển dụng vào những cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có môi trường và không gian làm việc tốt, cơ hội phát triển nghề nghiệp rộng mở mặc dù mức lương có thể chưa được cao như mong muốn.
Trong các cách để tạo ra năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp khi bước vào TPP, con người tài năng chính là nguồn nhân lực cạnh tranh hữu hiệu nhất. Nó mở ra cơ hội học tập rất lớn cho người lao động nói chung và lực lượng đông đảo sinh viên Việt Nam nói riêng, lợi thế thông qua con người tài năng được xem là yếu tố quan trọng nhất. Bởi lẽ, con người được xem là nguồn lực căn bản và có tính quyết định của mọi thời đại. Nguồn lực từ con người là yếu tố bền vững và khó thay đổi trong mọi tổ chức, doanh nghiệp. Năng lực thông qua con người tài năng ở các doanh nghiệp được hiểu như là khả năng của đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp. Nguồn nhân lực đóng góp cho sự thành công của doanh nghiệp trên các khía cạnh chất lượng cao, dịch vụ tuyệt hảo, khả năng đổi mới; kỹ năng trong công việc cụ thể; và năng suất của đội ngũ nhân viên. Đây là những yếu tố then chốt mang lại sự thành công của các tổ chức, doanh nghiệp trước thềm TPP.
2.2 Chiến lược con người tài năng - nguồn nhân lực cần được chuẩn bị cho TPP
Đừng để bị động trong cuộc chiến cạnh tranh sắp tới, cũng đừng để vuột mất cơ hội tiềm tàng khi tham gia sân chơi TPP. Năng lực cạnh tranh mạnh mẽ nhất thông qua yếu tố con người tài năng thường mang tính bền vững vì nó không thể xác lập trong một thời gian ngắn. Con người tài năng phải được xem là nguồn nhân lực cốt lõi của đất nước sẽ mang sự khác biệt và mang lại lợi thế cạnh tranh cho từng công ty. Mặt khác các hoạt động nguồn nhân lực cũng cần có sự kết hợp nhau để hợp lực tạo ra khả năng bảo đảm sự thành đạt mục tiêu của đất nước.
Trong bối cảnh đó, tìm kiếm, xây dựng những lợi thế cạnh tranh mới để thu hút vốn FDI và bình đẳng trước cuộc chơi là yêu cầu cấp bách hiện nay. Lợi thế cạnh tranh đó phải là con người tài năng - nguồn nhân lực chất lượng cao, đó cũng chính là hạ tầng cơ sở hiện đại, là hệ thống pháp luật đồng bộ.
Tuy nhiên, điều băn khoăn là không thể nhanh chóng tạo dựng được những lợi thế cạnh tranh mới này, nó đòi hỏi cả quá trình lâu dài, mất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc. Nhưng nếu không thực hiện từ bây giờ, không nỗ lực quyết tâm để tạo thế đứng trong cuộc chơi thì chắc chắn Việt Nam sẽ bị mất điểm trong con mắt của những nhà đầu tư nước ngoài và những cơ hội vào TPP của Việt Nam sẽ vụt mất. Khi môi trường mang tính cạnh tranh, hấp dẫn thì con người tài năng – nguồn nhân lực chất lượng cao cần thiết hơn bao giờ hết.   
3. KẾT LUẬN
Lợi ích từ TPP được đề cập rất nhiều từ các báo cáo khắp trong ngoài nước. Nhưng cho dù lợi thế có thiết thực đến đâu đi nữa thì Việt Nam vẫn rất cần đội ngũ con người tài năng đủ tầm, đủ sức để thừa hành và đảm đang các trọng trách như mong đợi.
Các đại học Việt Nam có nhiều sức mạnh tiềm tàng vì chứa đựng bên trong lực lượng lao động trẻ, hùng mạnh và dồi dào. Nếu như các trường đều ý thức, cùng bắt tay hành động mạnh mẽ đối phó với các nguy cơ ngắn hạn và theo đuổi chương trình tập trung vào chất lượng và trí tuệ dài hạn, đào tạo tốt lao động trẻ Việt Nam trở thành những con người tài năng, chắc chắn rằng Việt Nam có thể bước vào TPP với làn sóng tăng trưởng và thịnh vượng lâu bền.
4. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Đoàn Gia Dũng (2012), Bàn về sự tích hợp chiến lược nguồn nhân lực với chiến lược công ty (Integrating human resource strategy into the corporate strategy), Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
[2]. Hải Thu (2013), Tạo lợi thế cạnh tranh mới để thu hút FDI, báo Thanh Niên Chủ nhật.
[3]. PGS.TSKH. Bùi LoanThùy (2012), Nâng cao sức cạnh tranh cho sinh viên Việt Nam trên thị trường lao động trong nước và quốc tế, tạp chí PHÁT TRIỂN & HỘI NHẬP.
[4]. Huỳnh Nga (2009), Lợi thế khi chuẩn bị tốt nguồn nhân lực, báo Người Lao Động.
[5]. GS. Lương Xuân Quỳ (2014), Việt Nam và Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), Tạp chí Phát triển và hội nhập.
[6]. Bảo Trân(2012), 10 bất ngờ của Việt Nam, Tạp chí Foregin Policy.
[7]. Hoàng Phi (2014), HSBC đề cao lợi ích của Việt Nam trong TPP, Thời báo Kinh tế Sài Gòn online. 

MÔ HÌNH XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG


TÓM TẮT
Xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch cho một địa phương tức là thúc đẩy các tính năng của địa phương đó nhằm đưa ra những cam kết phù hợp và hấp dẫn cho các đối tượng mục tiêu. Xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch cho một địa phương không phải là một chiến dịch quảng cáo hay một khẩu hiệu, thay vào đó là một tầm nhìn được chia sẻ sâu sắc, cảm xúc hơn gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi hoạt động, từ hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến du lịch, thương mại đến các chính sách quản lý đô thị và hấp dẫn dân nhập cư. Mô hình xây dựng thương hiệu du lịch địa phương được đề xuất gồm năm trụ cột: Định hình khai thác tài nguyên du lịch phong phú, có tính đặc thù; Khai thác và phát triển nền ẩm thực đặc trưng mang màu sắc độc đáo; Quà tặng đặc trưng mang sắc thái địa phương , có giá trị riêng biệt; Ý thức cộng đồng và sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch của địa phương; Sự hưởng ứng và trách nhiệm của du khách khi tham gia du lịch.
ABSTRACT
Building up and brand development for a local tourism promotion local features in order to offer appropriate commitments and appealing to the target audience. Building up and brand development for a local tourism is not an advertising campaign or a slogan, instead of a shared vision deeply, emotionally more powerful influence on all activities, from investment promotion, tourism promotion, trade policy to manage intriguing urban and immigrants. Model building local tourism brand is proposed five pillars: Shaping exploiting rich tourism resources, has a peculiarity; Exploitation and development of the characteristic culinary unique colors of the local separate; Gifts featured local nuances unique, distinctive value; The sense of community and welcomes the readiness of local tourism; The responses and the responsibilities of participating travelers traveling.
Keywords: mô hình năm trụ cột; thương hiệu du lịch địa phương; thương hiệu địa phương, mô hình du lịch thành công;  
1. Giới thiệu
Nhiều nước trên thế giới, thương hiệu địa phương (state branding, city branding, place branding, destination branding) đang dần phổ biến, mang lại lợi thế cạnh tranh, sự vượt trội, phát triển bền vững hơn so với địa phương, quốc gia còn thụ động khác. Các nhà quản lý cho rằng chính quyền là của người dân, phục vụ người dân, phục vụ doanh nghiệp và xem địa phương là một thực thể nên phải có một thương hiệu. Dưới góc độ du lịch, thương hiệu du lịch địa phương không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho chính quyền, mà còn tạo ra những hiệu ứng tốt về hiệu quả đầu tư, thị trường bên ngoài, kích thích nội lực bên trong, làm thăng hoa các giá trị bản sắc dân tộc, mang lại lợi ích lâu bền trong chiến lược phát triển của địa phương. Một địa phương có thương hiệu du lịch sẽ hấp dẫn, độc đáo hơn, là nền tảng để biến một địa phương trở thành nơi thu hút đầu tư, điểm đến du lịch và là một nơi sống lý tưởng. Trong một thế giới cạnh tranh quyết liệt nhằm thu hút các nguồn lực kinh tế, vốn đầu tư, con người, tài nguyên cho các địa phương, các thành phố, phần thắng sẽ nghiêng về những địa phương xây dựng được một hình ảnh hấp dẫn, được định vị rõ ràng và có niềm tin tưởng lớn. Có được điều này không chỉ bằng các chính sách công mà còn cần một chiến lược xây dựng thương hiệu du lịch địa phương hiệu quả, có trách nhiệm và lâu dài.  
 2. Thực trạng xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch các địa phương Việt Nam trong thời gian qua
Tính đến nay chưa có một dự án xây dựng thương hiệu du lịch địa phương nào thực sự thành công. Chúng ta từng đề cập đến các vấn đề mang tầm vóc chiến lược như thương hiệu quốc gia, thương hiệu địa phương, thương hiệu thành phố ở Việt Nam nhưng trên thực tế thì các khái niệm xây dựng thương hiệu địa phương, thương hiệu địa phương du lịch nói trên vẫn còn nhiều người hiểu một cách khá mơ hồ.
Một số địa phương đã có ý thức xây dựng thương hiệu, như Tp.HCM, Đà Nẵng, Hội An, Huế, Quảng Ninh, Nha Trang, Đà Lạt… nhưng hầu như chỉ mới ở giai đoạn tạo ra nhận thức, bằng các chuỗi sự kiện thường niên như Tp.HCM có đường hoa Nguyễn Huệ, Đà Nẵng có liên hoan pháo hoa quốc tế, Huế có Huế festival, Nha Trang có các cuộc thi sắc đẹp hoàn vũ, Đà Lạt có lễ hội hoa… từng đó là chưa đủ để xây dựng một thương hiệu đã định vị mang tính chiến lược lâu dài cho các địa phương này. Các giá trị mà các thành phố này hứa hẹn mang đến cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước hoặc thu hút du lịch thường xuyên, vẫn chưa đủ mạnh và xác thực rõ ràng.
Chiến lược thương hiệu địa phương du lịch là chìa khóa thu hút nguồn nhân lực, vốn đầu tư, phát triển các ngành kinh tế, du lịch, văn hóa, xã hội. Có chính sách đúng đắn, quy hoạch tổng thể khoa học, nhưng không có một chiến lược thương hiệu du lịch mạnh, thì mọi nỗ lực của chính quyền địa phương khó có thể được biết đến một cách rộng rãi, quan trọng hơn khó có thể là điểm đến thực sự đối với các doanh nghiệp, nhà đầu tư và khách du lịch.
Hầu hết chúng ta đều quan niệm rằng, xây dựng thương hiệu quốc gia và địa phương là xây dựng thương hiệu cho những sản phẩm, dịch vụ cụ thể. Trong khi đó, phần lớn thương hiệu địa phương hay thương hiệu quốc gia không mang những ý nghĩa đặc trưng lý tính, mà dựa vào các giá trị cảm xúc.
Ví dụ Biểu tượng “Swiss Made” mang ý nghĩa giá trị hoàn hảo tinh tế của mọi sản phẩm sản xuất tại Thụy Sĩ, còn biểu tượng “Made in Japan” là đặc trưng cho chất lượng vượt trội của các sản phẩm Nhật Bản. Thành phố Canne được định vị như điểm đến của mọi sự kiện văn hóa và hội nghị quốc tế. Las Vegas là thành phố giải trí dành cho người lớn… Việt Nam và các địa phương của Việt Nam vẫn chưa có một chính sách rõ ràng và nhất quán, để xây dựng lên các giá trị vô hình như vậy.
Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công thương đã từng có một chương trình gọi là “Vietnam Value”, xác nhận chất lượng cho các sản phẩm đạt được một loạt các tiêu chí nhất định là một nỗ lực lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, danh hiệu này lại không có được một vị trí xác lập giá trị đối với người tiêu dung, các nhà đầu tư cũng như du khách bởi nó, chưa gắn kết với các giá trị định vị quốc gia. Các thành phố, tỉnh thành của Việt Nam muốn cạnh tranh hiệu quả trong chiến lược thu hút nguồn lực, thu hút đầu tư cũng như du khách từ các thị trường khác trong khu vực, bắt buộc họ phải có một chiến lược thương hiệu địa phương ngay từ bây giờ.
Qua phân tích trên, có thể khẳng định vấn đề thương hiệu địa phương nói chung và thương hiệu du lịch địa phương nói riêng ngày càng quan trọng. Không bao giờ là muộn khi việc xây dựng thương hiệu du lịch địa phương là yếu tố quyết định, góp phần mang lại sự thành công của mỗi quốc gia trên nhiều lĩnh vực. Tiềm năng du lịch Việt Nam to lớn nên việc đổi mới cách tiếp cận, phương thức xây dựng thương hiệu là cần thiết và hữu ích. Quan tâm, đầu tư, có hướng đi đúng trong công tác xây dựng thương hiệu, chắc chắn hình ảnh du lịch Việt Nam ngày càng được củng cố và sẽ khẳng định vị trí vững chắc trên bản đồ du lịch thế giới. [1]
3. Những hạn chế trong xây dựng thương hiệu du lịch địa phương tại Việt Nam
Nhiều nguyên nhân hạn chế việc phát triển thương hiệu du lịch địa phương đã được tổng kết và phát biểu tại các hội nghị trong nước, đại loại như:
- Chưa có các chính sách ưu đãi về vốn, về thuế đối với các hoạt động du lịch nên chưa có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước.
- Chưa có đầu tư thích đáng của nhà nước cho việc phát triển cơ sở hạ tầng ở các điểm du lịch, nên đã hạn chế rất lớn đến sự phát triển của ngành du lịch địa phương.
- Chưa tạo ra được các sản phẩm du lịch phong phú, đa dạng, đặc sắc và khác biệt, có tính hấp dẫn khách cao.
- Giá cả của sản phẩm du lịch còn cao, chất lượng còn thấp nên chưa cạnh tranh được với các sản phẩm du lịch cùng loại của các địa phương khác, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách.
 - Ở các điểm du lịch còn ít các dịch vụ và các sản phẩm có chất lượng cao, hấp dẫn khách du lịch.
- Chất lượng của đội ngũ nhân viên phục vụ trong các cơ sở du lịch mặc dù đã được đầu tư đào tạo, song vẫn còn hạn chế về trình độ nghiệp vụ, khả năng giao tiếp chưa cao (nhất là khả năng giao tiếp tiếng Anh) nên ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ và chất lượng các sản phẩm du lịch.
- Các cơ sở vui chơi giải trí, thể thao còn rất nghèo nàn và hầu như chưa có gì nên không giữ được khách lưu trú dài ngày.
 - Công tác tổ chức tiếp thị, tuyên truyền quảng cáo còn hạn chế.
- Việc tổ chức kết nối tour đưa đón khách chưa tốt.
Xây dựng thương hiệu du lịch địa phương với điều kiện cần phải có là tính chuyên nghiệp của đội ngũ làm du lịch. Tính chuyên nghiệp thể hiện ở việc tổ chức xây dựng, xúc tiến quảng bá và quản lý chất lượng các sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch đặc trưng phải có tính cạnh tranh với các dịch vụ có chất lượng tương xứng, gắn với việc phát triển thương hiệu du lịch đồng thời mỗi nguời dân sống trong vùng du lịch phải thật sự trở thành những đại sứ thiện chí, quảng bá cho thuơng hiệu du lịch của địa phương đó.
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, ngay từ bây giờ các địa phương du lịch phải hoạch định chiến lược phát triển du lịch tổng thể về sản phẩm, thị trường; xây dựng thương hiệu và xúc tiến quảng bá; bồi dưỡng nguồn nhân lực; tăng cường cơ chế phối hợp, đề cao môi trường, áp lực gia tăng dân số ở những khu vực nhạy cảm. Hơn thế nữa, cần một chiến lược phát triển du lịch hết sức có trách nhiệm, lâu bền thể hiện trong việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch, tôn trọng các giá trị văn hóa, đảm bảo các hoạt động kinh tế, xã hội lâu dài và điều quan trọng nhất là làm sao cho người dân thấy được rằng mỗi người dân tại địa phương đều được hưởng lợi từ thành quả đó.[2]  
4. Một vài mô hình du lịch địa phương thành công trên thế giới và tại Việt Nam  
4.1. Singapore
 Du lịch Singapore là một trong những ngành quan trọng của kinh tế đảo quốc Singapore. Du lịch Singapore phát triển nhờ vào yếu tố đa dạng văn hóa do Singapore là nơi sinh sống của các cộng đồng dân cư người Hoa, người Mã Lai, người Ấn Độ và người Ả Rập. Ngành du lịch quốc gia này cũng phát triển dựa vào môi trường xanh và sạch. Người Singapore tổng kết rằng, năm yếu tố tạo thành công cho du lịch Singapore bắt nguồn từ năm chữ  A trong tiếng Anh là: điểm thắng cảnh (Attractions), phương tiện giao thông (Accessibility), cơ sở tiện nghi (Amenities), các dịch vụ hổ trợ (Ancillary services) và sự điều chỉnh phù hợp về chính sách (Adjustment).[3]



                    H.1 Lý Quang Diệu – người đặt nền móng cho thương hiệu Singapore
Ảnh: báo Tuổi Trẻ
4.2. Thành phố Regina (Canada)
Để có thể phát triển một thương hiệu địa phương mạnh, chính quyền thành phố Regina (Canada) đã nhìn nhận một cách trung thực ấn tượng tiêu cực về nơi này và từ đó đã xây dựng được một hình ảnh thương hiệu phản ánh những cơ hội tiềm năng, phong phú của thành phố. Bằng cách lắng nghe người dân và những thành viên là các đối tượng thính giả khác nhau ở các thành phố khác nhau trên cả nước, thành phố này đã có thể khám phá và nêu bật được bản sắc của mình cũng như những phản đối của người dân đối với thành phố. Đó cũng là nguyên nhân đã biến thành phố vốn mang tiếng là “đồng cỏ vô vị” này trở thành một “chân trời bất tận” với những cơ hội ngày đang trải rộng.
4.3. Quảng Ninh đi đầu trong xây dựng thương hiệu địa phương ở Việt Nam [4]
Tại Việt Nam, Quảng Ninh được xem là tỉnh đầu tiên trong cả nước xây dựng thương hiệu du lịch địa phương (place tourism branding). Xây dựng thương hiệu du lịch là tiến trình tiếp sau giai đoạn quy hoạch và xúc tiến đầu tư, nhằm truyền thông hình ảnh nhất quán của địa phương đến các khu vực thị trường mục tiêu; cạnh tranh hiệu quả trên thị trường nội địa và quốc tế, thu hút nhà đầu tư, kinh doanh, du lịch và nhân lực cho địa phương; tăng niềm tin, thiện cảm, tình yêu của đối tác, khách du lịch và người dân với tỉnh Quảng Ninh. Để đeo đuổi chiến lược, Quảng Ninh là tỉnh đầu tiên thành lập Hội đồng thương hiệu Quảng Ninh (Quang Ninh Branding Council) có sự tham gia cố vấn của đội ngũ chuyên gia thương hiệu nổi tiếng trong và ngoài nước nhằm xây dựng, triển khai thương hiệu địa phương.   
Để quá trình xây dựng du lịch địa phương thành công, không thể phủ nhận vai trò của truyền thông trong việc tuyên truyền chủ trương chính sách, phản biện xã hội và cung cấp thông tin quan trọng, hữu ích cho công chúng. Một vai trò khác, thể hiện rõ ràng hơn của báo chí là hỗ trợ xây dựng hình ảnh của các doanh nghiệp, thương hiệu, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, làm giàu cho xã hội. Sự hợp tác chặt chẽ, hiệu quả giữa chính quyền địa phương và các cơ quan truyền thông trong việc khai thác các thế mạnh của địa phương, quảng bá các hoạt động tích cực, những chuyển biến đáng kể trong chính sách thu hút đầu tư, thu hút nhân tài, hỗ trợ cho tỉnh trong chiến lược xây dựng thương hiệu địa phương là những điều không bao giờ được quên.
5. Ảnh hưởng tích cực của một thương hiệu du lịch địa phương thành công
Xây dựng thương hiệu du lịch địa phương là một quá trình mang tính chiến lược để phát triển một tầm nhìn dài hạn cho một địa phương. Với mục tiêu gắn kết và hấp dẫn các đối tượng liên quan nên nó chi phối và định hình nhận thức tích cực về một địa phương đó.
Mục tiêu mong muốn của một thương hiệu du lịch địa phương thành công thường là:
- Thu hút dân cư mới, doanh nghiệp, thu hút đầu tư và sự kiện lớn, giữ vai trò cạnh tranh với các địa phương khác.
- Thay đổi nhận thức về hình ảnh yếu kém của địa phương đối với các thành phần đối tượng bên ngoài và nội bộ.
- Tạo ra một viễn cảnh chung cho tương lai của cộng đồng và tiềm năng của địa phương đó.
- Xây dựng một hình ảnh nhất quán về địa phương;
- Tăng cường, nâng cao nhận thức về định vị của địa phương trong khu vực, cấp quốc gia và phạm vi toàn cầu.
- Gỡ bỏ các quan niệm cố hữu bất lợi liên quan đến địa phương và làm cho nó thêm hấp dẫn.
Điều quan trọng nhất trong xây dựng thương hiệu địa phương là sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo địa phương. Bởi điều kiện tiên quyết để đạt đến thành công là nhận thức của lãnh đạo và sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng hướng. Lê Nghiêm (2014).
6. Đề xuất Mô hình “Xây dựng thương hiệu du lịch địa phương”  
Theo tác giả, xây dựng thương hiệu du lịch một địa phương thành công cần có chiến lược phát triển thương hiệu du lịch địa phương hoàn thiện, chi tiết, thiết thực, hiệu quả. Ngoài những vấn đề trọng tâm chính, chiến lược đó phải có đủ năm thành phần trụ cột sau đây:
 

                        H.2 Sơ đồ mô hình 5 thành phần trụ cột được biểu thị bằng hoa năm cánh

6.1. Định hình khai thác tài nguyên du lịch phong phú, có tính đặc thù
Tài nguyên du lịch của một địa phương gồm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn (nếu địa phương có sẵn tài nguyên tự nhiên thì tốt, không có thì tự tạo lập). PGS.TS. Trương Quốc Bình (Viện Nghiên cứu Văn hóa, Nghệ thuật Việt Nam) đã đề xuất giải pháp khai thác các yếu tố văn hóa, văn nghệ truyền thống cho phát triển du lịch, trên cơ sở khẳng định những vị trí vai trò quan yếu của các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và các bảo tàng cùng sự đặc sắc, phong phú của các di sản văn hoá phi vật thể....
Ví dụ Xây dựng sản phẩm du lịch (nhân văn) nhằm tạo thương hiệu cho địa phương (kinh nghiệm từ thành phố Điện Biên Phủ).
Từ thực tế lịch sử Điện Biên, chính quyền thành phố ra ý tưởng Xây dựng hình tượng lịch sử ''Đêm chiến trường'' ở Điện Biên Phủ. Đây sẽ là sản phẩm du lịch đặc thù duy nhất có trên địa bàn một thành phố lịch sử như thành phố Điện Biên Phủ của Việt Nam. “Đêm chiến trường” sẽ diễn ra trên không gian thành phố Điện Biên Phủ, trong thời gian đêm mồng 6 chuyển sang ngày mồng 7 tháng 5 hàng năm. Trong đêm này, cần phục dựng, tái hiện lại hình ảnh một đêm như những đêm chiến trường khốc liệt đã từng diễn ra ở nơi đây vào những ngày đầu tháng 5 năm 1954. Đó là những thời khắc lịch sử không bao giờ lặp lại, sẽ là ấn tượng không thể nào quên với những ai đã trải qua, để lại ấn tượng sâu sắc với những người sinh thời hậu chiến, không trải qua các cuộc chiến tranh.
6.2. Khai thác và phát triển nền ẩm thực đặc trưng mang màu sắc độc đáo riêng biệt của địa phương (Các thức ăn, thức uống phục vụ cho khách du lịch).
Ẩm thực là yếu tố quan trọng góp phần định vị thương hiệu du lịch địa phương. Đối với bất cứ một quốc gia điểm đến nào, trong danh mục sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, cả vật thể và phi vật thể phục vụ khách du lịch, thì các món ăn và cả thức uống luôn được nhìn nhận là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để hấp dẫn du khách. Ẩm thực sẽ tạo thêm dấu ấn đối với du khách về điểm đến tại địa phương đó.Việt Nam là một quốc gia phong phú nền ẩm thực, đa dạng khẩu vị mang đặc trưng rất riêng so với ẩm thực thế giới. Âm thực từng địa phương ở Việt Nam cũng rất phong phú, đa dạng và mang màu sắc riêng biệt. Một chuyên gia ẩm thực nổi tiếng từng mong muốn “Việt Nam sẽ trở thành bếp ăn của thế giới” trong tương lai. Qua đó, từng địa phương ở Việt Nam nên hiểu và biết lựa chọn nền ẩm thực độc đáo cho mình khi xây dựng thương hiệu du lịch địa phương.
6.3. Quà tặng đặc trưng mang sắc thái địa phương độc đáo, có giá trị riêng biệt  
Theo nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần, quà tặng du lịch là những sản phẩm lắng đọng hồn văn hóa dân tộc, địa phương, vùng miền. Về mặt giao tiếp, quà tặng còn là đại sứ thiện chí chuyển tải những thông điệp nhân văn, giúp bạn bè năm châu hiểu được một phần nào đó về lịch sử và chiều sâu văn hóa hàng ngàn năm của Việt Nam nói chung và từng địa phương nói riêng.
TS. Lê Doãn Hợp, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông cho rằng, từ xưa đến nay sản phẩm quà tặng thường xoay quanh ba lĩnh vực tiêu biểu gồm: Cảnh đẹp thiên nhiên ban tặng; di sản do các thế hệ đi trước tạo dựng và lưu truyền đến đời sau; sản phẩm lao động do khối óc bàn tay con người sáng tạo nên.
Nhiều địa phương của Việt Nam chưa tìm ra được những sản phẩm đặc trưng để quảng bá cho hình ảnh địa phương của mình. Trong bối cảnh, nhiều tỉnh, thành trên cả nước vẫn loay hoay với việc tìm sản phẩm quà tặng thể hiện “hồn đất, hồn người”, thì Bà Rịa-Vũng Tàu là địa phương đầu tiên tổ chức hội thảo “Tìm kiếm ý tưởng thiết kế và sản xuất quà lưu niệm phục vụ du lịch”. Qua hội thảo, rất nhiều ý tưởng về bộ sản phẩm quà tặng của Bà Rịa-Vũng Tàu được định hình. Tuy vậy, việc đưa những ý tưởng ấy vào thực tế lại là băn khoăn của nhiều người. Hiện tại thì các sản phẩm lưu niệm bày bán trên địa bàn tỉnh còn nghèo nàn, chưa thể hiện được đặc trưng của Bà Rịa-Vũng Tàu.
Kinh nghiệm của Đồng Tháp với hình tượng “Bé Sen” trong mắt du khách
 Cuối tháng 6/2014, biểu tượng “Bé Sen” do Công ty Say Cheese thiết kế được UBND tỉnh chọn làm biểu tượng quảng bá hình ảnh của Đồng Tháp (linh vật Đồng Tháp). Trước đó, hình ảnh “Bé Sen” đã đi vào lòng nhiều du khách gần xa. Linh vật Đồng Tháp là hình ảnh “Bé Sen” khỏe khoắn, tươi mới và năng động được cách điệu từ hoa sen và sáng tạo dựa trên 3 màu sắc chủ đạo là xanh, hồng, vàng. Bé Sen là biểu tượng giàu sức biểu đạt, mang trong mình tất cả những gì tinh túy, đượm chất nhất của đất sen hồng. Đó là hình ảnh của tương lai, sự phát triển mạnh mẽ, sự thích ứng với những đổi thay.

               


                     H.3 Biểu tượng “Chú bé sen” – sản phẩm quà tặng đặc trưng của Đồng Tháp
                                                                    Ảnh: báo Đồng Tháp

Gần đây, những hình ảnh “Bé Sen”, sản phẩm “Bé Sen” được trưng bày tại một số điểm tham quan du lịch trên địa bàn tỉnh như Khu Di tích Xẻo Quít, Khu Du lịch sinh thái Gáo Giồng, Khu Đồng Sen Tháp Mười,... đã mang đến cho du khách cảm giác thoải mái và thấy yêu hơn vùng đất mà mình đặt chân đến. Các điểm tham quan du lịch trên địa bàn tỉnh đang từng bước khắc phục những tồn tại, yếu kém để phục vụ du khách. Hình ảnh “Bé Sen” được đặt tại một số tuyến đường trên địa bàn tỉnh hay các buổi hội thảo, hội nghị, đặc biệt tại một số điểm tham quan du lịch đã góp phần tạo nên nét tươi mới, thu hút sự chú ý, thích thú của du khách, qua đó góp phần quảng bá hình ảnh Đồng Tháp đến du khách gần xa. [5]
6.4. Ý thức cộng đồng và sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch của địa phương
Đây thành phần quan trọng nhất, chúng ta chú ý 3 điểm chính yếu sau:
6.4.1. Sự tham gia của cộng đồng
Kinh nghiệm từ thành phố Regina (Canada), đặc trưng lớn nhất của sáng kiến xây dựng thương hiệu địa phương Regina là nó được hưởng ứng bởi cộng đồng. Người quản lý thương hiệu địa phương của Regina nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng là phần quan trọng nhất khi khám phá những tiềm năng và cơ sở của Regina, đây chính là điểm khiến Regina trở nên khác biệt và đó là một phần quan trọng tạo nên bản sắc thương hiệu địa phương của họ.
6.4.2. Truyền thông báo chí và việc kiểm soát truyền thông nội bộ
Truyền thông báo chí và việc kiểm soát truyền thông nội bộ là việc làm rất quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu địa phương. Kiểm soát truyền thông nội bộ là một quá trình đánh giá nỗ lực trao đổi thông tin hiện tại. Kiểm soát truyền thông đặt câu hỏi xem một tổ chức trao đổi thông tin như thế nào và việc trao đổi đó có hiệu quả hay không. Người quản lý thương hiệu hoặc truyền thông của thành phố thông thường cũng là người đánh giá hiệu quả truyền thông. Bên cạnh đó, một công ty bên ngoài cũng được thuê để có thể hỗ trợ ý tưởng cho việc xây dựng thương hiệu địa phương. Kết quả đánh giá sẽ cho phép xác định vị trí thương hiệu hiện tại của thành phố, xác định những thiếu sót để xây dựng nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo. Kết quả quá trình đánh giá này sẽ được trình bày với các bên liên quan. Ở Regina, cả hai bên, nhà quản lý thương hiệu và công ty truyền thông đều tham gia vào việc đánh giá truyền thông nội bộ. Nhà quản lý thương hiệu cộng tác với công ty để tập hợp những thông tin nổi bật trong khi công ty đưa ra ý kiến đánh giá và phân tích nội dung,
6.4.3. Nỗ lực tích cực của chính quyền địa phương
Cơ quan quản lý nhà nước trong việc nhận thức và ra chính sách quản lý du lịch.
6.5. Sự hưởng ứng và trách nhiệm của du khách khi tham gia du lịch
6.5.1. Sự hưởng ứng của du khách khi tham gia du lịch
Kinh nghiệm từ Singapore cho thấy, Ông Lý Quang Diệu đã thực hiện một loạt sáng kiến thân thiện với khách du lịch: Night Safari (sở thú đêm đầu tiên trên thế giới), Flyer (vòng quay khổng lồ), nhà hát Esplanade (trung tâm biểu diễn nghệ thuật), Marina Bay Sands (khu nghỉ dưỡng ở vịnh Marina). Với những sáng kiến đó, ông tiếp thị những địa điểm này của đất nước Singapore ra toàn thế giới. Năm 2014, lượt du khách quốc tế tới Singapore là 15,1 triệu người trong khi quốc đảo này chỉ có dân số khoảng 5,5 triệu người. Năm 2015, nước này đặt mục tiêu 17 triệu du khách và dự kiến thu về 30 tỷ đôla Singapore. Với những con số ấn tượng đó, hòn đảo nhỏ bé này đứng thứ 15 trên thế giới về doanh thu du lịch. Có thể nói các chiến lược du lịch mà ông Lý Quang Diệu đặt ra đã hiện thực hóa tầm nhìn của ông ngày nào. [6]
Một minh chứng khác, tại một sự kiện khi một nhà báo hỏi tại sao người ta lại muốn đến Singapore khi mà không có gì để thăm thú, không thắng cảnh, không văn hóa, không hoạt động, không khách sạn, không cơ sở hạ tầng. Ông Lý Quang Diệu không ngần ngại một giây mà trả lời luôn rằng: “Nhận thức. Người ta đến không phải vì ở đây có gì, mà vì những gì người ta nghĩ có ở đây. Tất cả đều nhờ tiếp thị”. Cụ thể hơn, ông Lý Quang Diệu nói với tờ Strait Times năm 1993: “Tại sao người ta đến Singapore? Chúng ta có những gì? Chúng ta chỉ có một cái tên, một vài thói quen, phong tục là lạ, vài ông đồng bà cốt, vài ngôi đền, mấy người Ấn có tài đi trên than đỏ… Đó không phải là thứ sẽ hút khách du lịch. Thay vào đó, chúng ta tạo ra sức hút. Chúng ta tạo ra mối quan tâm cho du khách. Chúng ta phát triển chiến lược tiếp thị và khiến chúng ta trở nên hữu ích với thế giới”.  
6.5.2. Trách nhiệm của du khách khi tham gia du lịch
Địa phương điểm đến phải giúp khách du lịch nâng cao ý thức bảo vệ môi trường du lịch, sử dụng sản phẩm du lịch địa phương, mua quà lưu niệm du lịch tại địa phương họ đến.
Nếu không có nỗ lực, hợp tác tốt từ bên trong thì không có du khách có trách nhiệm đến từ bên ngoài, do vậy lực lượng làm nên thành công của thương hiệu du lịch địa phương chính là du khách (Kinh nghiệm từ Singapore).
Làm sao để du khách đến địa phương chúng ta? Và làm sao khi khách đến là họ phải có trách nhiệm sử dụng các đặc sản và quà lưu niệm của địa phương (uống bia địa phương, ăn món ăn địa phương, mua quà lưu niệm địa phương)?
Tổ chức nghiên cứu nhu cầu của khách du lịch về chất lượng dịch vụ du lịch và sự hài lòng của khách du lịch với điểm đến và với dịch vụ du lịch được cung ứng, có thể nghiên cứu theo từng phân đoạn thị trường.
7. Kết luận
Việc nhận thức và xác định đúng mô hình khi xây dựng “Thương hiệu du lịch địa phương” là việc làm có ý nghĩa và thực hiện nó trong thời điểm này là phù hợp vì điều kiện và hạ tầng hiện có đủ đáp ứng trong việc triển khai thực hiện. Mọi người dân tại các địa phương toàn tâm toàn lực cùng các cơ quan quản lý địa phương khi bắt tay làm thương hiệu du lịch chắc chắn sẽ đẩy mạnh sự thành công ngành du lịch địa phương đó, nhiều địa phương cùng thực hiện như vậy sẽ thúc đẩy thương hiệu du lịch quốc gia thành công hơn. Có đủ nhận thức và trình độ để chuyển hóa tri thức còn ẩn tàng trong nhân loại là một việc làm thông thái, tích cực của các nhà kỹ trị địa phương. Doanh nghiệp lấy khoa học công nghệ, lấy sự đổi mới sáng tạo làm động lực phát triển kinh tế lâu dài, ổn định đó chính là cách góp phần gầy dựng vốn bền vững nhất cho các địa phương tại Việt Nam.

Bài tham gia Hội thảo Quốc tế “Các loại hình du lịch hiện đại”
            Trường Cao đẳng Văn hóa, nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn ngày 10/2016 

8. Tài liệu tham khảo
[1]. Ths. Phạm Quang Hưng, Đổi mới nhận thức và phương thức xây dựng Thương hiệu điểm đến, 2014, http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/15536
[2].http://haiphong.gov.vn/Portal/Detail.aspx?Organization=vhtt&MenuID=3152&ContentID
[3]. Nguyễn Hương, Giải pháp nâng cao sức hấp dẫn của sản phẩm du lịch Hà Nội,
[3]. (Theo tuoitre.com.vn).
[4]. (Quảng Ninh – hội tụ và lan tỏa)
[5]. (Hữu Nghĩa - Hình ảnh “Bé Sen” trong mắt du khách, Đồng Tháp)
[6]. Lý Quang Diệu - Biểu tượng của đất nước Singapore thịnh vượng
[7].http://lequocvinh.com/2015/01/xay-dung-thuong-hieu-dia-phuong-trong-tong-the-chien-luoc-canh-tranh-phat-trien-kinh-te/
[8]. http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/15536  
[10].http://www.baodongthap.com.vn/newsdetails/1D3FE187395/Hinh_anh_Be_Sen_trong_mat_du_khach.aspx

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

TÌM HIỂU CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN LỄ TÂN TRONG KHÁCH SẠN

Nhân viên lễ tân khách sạn là công việc mà nhiều bạn trẻ mơ ước. Nhưng, lý do nào và những hấp lực nào đã lôi cuốn các bạn trẻ tham gia học tập đông đảo các lớp nghiệp vụ du lịch (từ các lớp sơ cấp đến bậc cử nhân)? Để giúp các bạn thấy được tầm quan trọng của bộ phận lễ tân trong ngành kinh doanh khách sạn đồng thời đáp ứng mong muốn tìm hiểu về công việc này, chúng tôi xin giới thiệu sơ nét về hoạt động của bộ phận lễ tân nhằm cung cấp cho các bạn trẻ có thêm hiểu biết và có cái nhìn đầy đủ hơn về một công việc mà các bạn yêu thích.

Những công việc chính của bộ phận Lễ tân


Bộ phận lễ tân trong ngành kinh doanh khách sạn có vai trò đặc biệt, đó là nơi cung cấp thông tin cho khách về khách sạn. Do vậy, ấn tượng ban đầu khi gặp nhau là hết sức quan trọng đối với khách. Khách có thiện cảm hay không chính ngay từ phút đầu tiên họ đến khách sạn và tiếp xúc với đội ngũ nhân viên của bộ phận này. Bộ phận lễ tân còn có nhiệm vụ khai thác nhu cầu lưu trú, nhu cầu ăn uống và các dịch vụ khác cho khách. Bộ phận lễ tân là trung tâm vận hành nghiệp vụ của toàn bộ khách sạn, là điểm nút liên hệ giữa khách với khách sạn và được ví như “thần kinh trung ương của khách sạn”
Lễ tân là nơi để theo dõi, quan tâm phục vụ khách trong suốt quá trình từ khi khách đặt phòng lưu trú, ăn nghỉ tại khách sạn cho tới khi khách thanh toán và rời khỏi khách sạn. Nó là cầu nối giữa khách với các dịch vụ khác ở trong và ngoài khách sạn (ăn uống, vui chơi, giải trí, du lịch, dã ngoại …). Bên cạnh đó, lễ tân còn là bộ phận tham mưu cho ban giám đốc của khách sạn, kịp thời cung cấp thông tin về nguồn khách, tình hình khách, nhu cầu của khách để lãnh đạo của khách sạn kịp thời định ra kế hoạch và chiến lược kinh doanh của mình.





Bộ phận lễ tân thực hiện tiếp nhận khách như: đưa đón khách, nhận và chuyển bưu điện, báo chí, hành lý … cho khách. Chuyển giao các yêu cầu dịch vụ của khách với nhà hàng ăn uống, các trung tâm dịch vụ, đại lý du lịch, các đoàn xe và các dịch vụ khác. Điều phối việc cho khách thuê phòng ở lâu dài hay ngắn hạn. Làm thủ tục giấy tờ cho khách đến, khách đi. Lập hồ sơ về khách, lưu trữ và phân tích các tư liệu về khách. Kịp thời phản ánh với ban giám đốc về nguồn khách, về tình hình tiêu thụ sản phẩm, về doanh số và về nhu cầu đặc biệt khác của khách.
Lễ tân còn tham gia vào các hoạt động kinh doanh phòng khách sạn, nghiên cứu và dự đoán về thị trường khách sạn, vào việc định giá cho thuê phòng và lập kế hoạch thúc đẩy kinh doanh phòng khách.
Thiết kế, duy trì hệ thống máy tính trong khách sạn, truy nạp dữ liệu chính xác vào hệ thống máy tính, cập nhật các tư liệu về chi phí thuê phòng của khách. Bảo đảm thông tin xuyên suốt và kịp thời truy xuất khi ban giám đốc yêu cầu….






Yêu cầu nhân viên khi làm việc ở bộ phận lễ tân


Ngoài công việc đón tiếp và đăng ký phòng cho khách, nhân viên bộ phận lễ tân còn có nhiệm vụ bán và thuyết phục khách chấp nhận mua phòng tại chỗ. Do vậy, nhân viên ở đây phải có khả năng giao tiếp tốt, nắm vững tình trạng phòng, đặc điểm giá cả từng loại phòng và đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách.
Vệ sinh sạch sẽ, ăn mặc gọn gàng cũng là một yêu cầu thật sự cần thiết đối với nhân viên bộ phận lễ tân. Do bộ phận lễ tân là nơi quan trọng trong khách sạn cho nên nhân dáng của nhân viên ở đây phải thuyết phục, diện mạo bên ngoài luôn gọn gàng, sạch sẽ (áo quần, đầu tóc, da dẻ, răng miệng … đặc biệt hơi thở phải thơm tho) bởi vì diện mạo của nhân viên còn phản ánh đến hình ảnh và uy tín của khách sạn. Điều quan trọng hơn nếu đã là nhân viên lễ tân thì nên rèn luyện thói quen ăn mặc sạch, đẹp, phù hợp môi trường làm việc để đảm bảo rằng bạn luôn tạo ấn tượng tốt cho khách.
Thông thạo ngoại ngữ là một yêu cầu bắt buộc đối với tất cả mọi nhân viên của bộ phận lễ tân. Sự khác biệt về văn hóa cũng là yếu tố cần lưu ý bởi vì nó sẽ quyết định cách thức chào đón khách như thế nào là phù hợp. Đặc biệt đối với du khách nước ngoài, những người có kiến thức, phong tục, văn hóa, nghi thức xã giao… khác với bạn. Do đó, cần phải quan sát, học hỏi những nghi thức đón tiếp về sự ứng xử trang nhã, lịch sự, nồng nhiệt có như thế bạn mới có thể hoàn thành tốt và xứng đáng với vai trò nhân viên lễ tân khách sạn của bạn.


Học lễ tân ở dâu?

Trường Trung cấp Nghề Việt Giao (193, Vĩnh Viễn Quận 10, TpHCM) thường xuyên mở các khóa Nghiệp vụ Lễ tân Quốc tế. Thời gian học từ 2,5 – 3 tháng, sau khóa học được cấp chứng chỉ có giá trị quốc gia và được nhà trường giới thiệu di làm.
Các bạn cũng có thể chọn học bậc trung cấp nghề 2 năm, sau khi tốt thì ngoài công việc Lễ tân bạn còn làm được nhiều công việc khác nữa như là: Nhân viên phục vụ nhà hàng, Nhân viên đứng quầy pha chế rượu, Nhân viên nghiệp vụ buồng, nhân viên bán hàng và chăm sóc khách hàng… Nếu đủ khả năng bạn có thể làm quản lý cho một nhà hàng sang trọng đẳng cấp hoặc trở thành quản lý FO hay House - keeping của khách sạn.










DU LỊCH HOME STAY Ở TIỀN GIANG



Chỉ hơn một giờ ngồi xe ôtô là bạn đã có thể ung dung đứng trong vườn hoa quả xum xuê để thưởng thức cây trái ngọt ngào ở Tiền Giang.
Là một tỉnh ở vùng châu thổ sông Cửu Long, Tiền Giang từng được mệnh danh là vương quốc của vườn cây trái. Với số ha trồng cây ăn quả lớn nhất đồng bằng này đã giúp cho Tiền Giang rạng danh nhờ vào các loại trái cây nổi tiếng như: vú sữa Vĩnh Kim, dừa Thới Sơn, nhãn Nhị Quý, xoài cát Hòa Lộc… Cây trái ở đây thật sự phong phú về chủng loại, đa dạng về màu sắc, hương vị lại đậm đà sẽ làm cho du khách ngây ngất bên vườn cây trái bốn mùa.

Thú vị hơn, du khách có thể lưu lại nhà của người dân vùng này và cùng homestay với họ trong một vài ngày. Con người ở đây, tuy thiếu thốn về vật chất, đời sống tinh thần còn hạn chế nhưng cởi mở, phóng khoáng, thân thiện và thật thà. Dù bạn mang quốc tịch gì hay từ một châu lục nào đến đây cũng được tiếp đón chu đáo, ân cần và được tiếp xúc như những người thân của họ.


Một vài hình ảnh cây trái Tiền Giang







Còn nếu bạn muốn tìm hiểu điều gì hay cần sự giúp đỡ thì họ sẵn sàng chia xẻ những hiểu biết và chân tình giúp đỡ bạn theo khả năng của họ mà không đòi hỏi điều kiện nào. Rất đáng nhớ và rất thú vị nếu như du khách được ra ruộng thăm đồng, được cấy lúa vào ngày mùa, được cưỡi trâu cày ruộng, tìm hiểu về cách gieo mạ, trồng cây, tỉa quả cùng với người nông dân. Thâm nhập vào đời sống tâm linh, vào tín ngưỡng, vào phong tục tập quán của cư dân Tiền Giang bạn sẽ khám phá nhiều nét văn hóa đặc sắc mang đậm lối sống của nền văn minh lúa nước.
Đến đó đi, du khách sẽ được cảm nhận đẹp từ cuộc sống bình thường nhất của một dân tộc hào hùng trong chiến đấu, một dân tộc luôn bất khuất trong quá khứ và một dân tộc cực kỳ thân thiện ở thời đại hòa bình.